8 kỹ năng giao tiếp thiết yếu cho giám đốc bán hàng

Hướng dẫn sử dụng biểu mẫu

Mục đích sử dụng

Tài liệu "8 Kỹ năng giao tiếp của giám đốc bán hàng" được thiết kế nhằm trang bị cho các nhà quản trị bán hàng những kiến thức nền tảng và kỹ năng thực tiễn về giao tiếp trong môi trường doanh nghiệp. Mục tiêu chính là giúp giám đốc bán hàng hiểu rõ các loại hình giao tiếp (thuyết phục, thông báo, tình cảm, xuyên tạc), nắm vững các phương pháp giao tiếp bằng lời nói, văn bản và phi ngôn ngữ, đồng thời phát triển kỹ năng lắng nghe – chìa khóa để giao tiếp thành công. Tài liệu này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc đào tạo, tự học và nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ quản lý bán hàng.

Ai điền và khi nào

Tài liệu này dành cho các Giám đốc bán hàng, Trưởng phòng kinh doanh, và các nhà quản trị cấp trung trong lĩnh vực bán hàng. Nhân viên mới được bổ nhiệm vào vị trí quản lý bán hàng nên đọc tài liệu này ngay trong tuần đầu tiên để có cái nhìn tổng quan về các kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, các giám đốc bán hàng giàu kinh nghiệm cũng có thể sử dụng tài liệu này để tự đánh giá và cải thiện kỹ năng giao tiếp của bản thân, đặc biệt trước các buổi họp quan trọng, đàm phán với khách hàng lớn hoặc khi cần giải quyết xung đột trong đội ngũ.

Hướng dẫn điền từng mục

  1. Kỹ năng giao tiếp – Thuyết phục: Đây là mục tiêu giao tiếp phổ biến nhất. Khi điền, bạn cần xác định rõ tình huống cần thuyết phục ai (nhân viên, khách hàng, cấp trên) và mục tiêu cụ thể là gì. Ví dụ: thuyết phục đại diện bán hàng thay đổi kỹ thuật bán hàng, hay thuyết phục khách hàng mua sản phẩm với ưu đãi đặc biệt.
  2. Kỹ năng giao tiếp – Thông báo: Mục này yêu cầu bạn cung cấp thông tin một cách rõ ràng, chính xác và ngắn gọn. Ví dụ: thông báo số lượng nhà phân phối trên lãnh thổ, hoặc báo cáo chi phí vượt định mức. Hãy đảm bảo thông tin là sự thật, có số liệu cụ thể.
  3. Kỹ năng giao tiếp – Tình cảm: Khi điền mục này, bạn cần thể hiện cảm xúc một cách chân thật nhưng chuyên nghiệp. Ví dụ: bày tỏ sự tiếc nuối khi nhân viên gặp khó khăn, hoặc thể hiện sự không hài lòng khi nhân viên không đúng giờ. Mục tiêu là duy trì mối quan hệ tốt đẹp.
  4. Kỹ năng giao tiếp – Xuyên tạc: Đây là mục cảnh báo. Bạn cần nhận diện và tránh các hành vi giao tiếp mang thông tin sai lệch, như đổ lỗi cho bưu điện làm mất báo cáo, hoặc nói xấu đối thủ cạnh tranh một cách thiếu căn cứ. Hãy ghi nhớ rằng giao tiếp trung thực là nền tảng của lãnh đạo.
  5. Kỹ năng giao tiếp bằng lời và văn bản: Mục này nhấn mạnh việc phát triển kỹ năng nói và viết. Bạn cần luyện tập viết các bản ghi nhớ, thư từ, báo cáo đánh giá nhân viên sao cho rõ ràng, ngắn gọn và chính xác. Đồng thời, hãy tận dụng kinh nghiệm bán hàng để cải thiện kỹ năng nói trong các cuộc họp nhóm.
  6. Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt): Đây là phần quan trọng. Bạn cần học cách đọc và kiểm soát ngôn ngữ cơ thể: nét mặt, cử chỉ, dáng điệu, trang phục. Ví dụ: một nụ cười, cái gật đầu có thể thể hiện sự đồng thuận; ngược lại, cau mày, quay lưng lại thể hiện sự từ chối. Hãy chú ý đến văn hóa giao tiếp để tránh hiểu lầm.
  7. Kỹ năng lắng nghe (Mô hình SIER): Mục này hướng dẫn quy trình lắng nghe 4 bước: Cảm giác (Sense) – Hiểu (Interpret) – Đánh giá (Evaluate) – Phản ứng (Respond). Bạn cần thực hành lắng nghe chủ động, không chỉ nghe lời nói mà còn quan sát cử chỉ, nét mặt của đối phương để hiểu đúng thông điệp.
  8. Tạo ảnh hưởng – Kỹ thuật lãnh đạo: Mục này tổng hợp các kỹ năng trên để giúp bạn tạo ảnh hưởng tích cực lên đội ngũ. Hãy áp dụng linh hoạt các phương pháp giao tiếp phù hợp với từng tình huống, từng đối tượng để trở thành một nhà lãnh đạo hiệu quả.

Lưu ý quan trọng

  • Luôn xác định rõ mục tiêu giao tiếp trước khi nói hoặc viết: bạn muốn thuyết phục, thông báo, bày tỏ cảm xúc hay cung cấp thông tin?
  • Kỹ năng lắng nghe chiếm tới 45% quá trình giao tiếp, nhưng ít được đào tạo bài bản. Hãy dành thời gian luyện tập lắng nghe chủ động mỗi ngày.
  • Giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, giọng nói) chiếm tới 93% hiệu quả giao tiếp. Hãy chú ý đến ngôn ngữ cơ thể của bạn và của đối phương.
  • Tránh xa các hành vi giao tiếp xuyên tạc, vì chúng làm mất lòng tin và uy tín của nhà quản trị.
  • Văn bản giao tiếp (email, báo cáo, ghi nhớ) cần được viết rõ ràng, ngắn gọn, chính xác và chuyên nghiệp.
  • Hãy liên tục tự đánh giá và cải thiện kỹ năng giao tiếp của bản thân thông qua phản hồi từ đồng nghiệp, cấp trên và nhân viên.

Lỗi thường gặp

  • Không xác định rõ mục tiêu giao tiếp, dẫn đến thông điệp mơ hồ, không thuyết phục được người nghe.
  • Chỉ tập trung vào nói mà bỏ qua kỹ năng lắng nghe, khiến đối phương cảm thấy không được tôn trọng và hiểu lầm thông tin.
  • Bỏ qua ngôn ngữ cơ thể: nói một đằng nhưng cử chỉ, nét mặt lại thể hiện điều ngược lại, gây mất lòng tin.
  • Sử dụng thông tin sai lệch hoặc phóng đại để thuyết phục, dẫn đến mất uy tín lâu dài.
  • Viết văn bản dài dòng, thiếu cấu trúc, sai chính tả hoặc không kiểm tra lại trước khi gửi.
  • Không điều chỉnh phong cách giao tiếp phù hợp với từng đối tượng (cấp trên, đồng nghiệp, nhân viên, khách hàng).
  • Phản ứng cảm xúc thái quá khi giao tiếp tình cảm, làm mất đi tính chuyên nghiệp của nhà quản trị.

Nội dung biểu mẫu

KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA GIÁM ĐỐC BÁN HÀNG

Đối với nhà quản trị bán hàng, có được mô hình lãnh đạo và biết được nó hoạt động như thế nào rất cần thiết nhưng còn chưa đủ điều kiện để thực hiện nó trong thực tế. Nhà quản trị bán hàng còn cần các kỹ năng thực hiện nó một cách thành công. Vì sự lãnh đạo luôn luôn có các mối liên hệ với người khác, để lãnh đạo có hiệu quả đòi hỏi kỹ năng trong giao dịch xã hội nhất định.

Sự giao tiếp: Cơ sở của lãnh đạo quản trị bán hàng

Sự giao tiếp là một quá trình có tính năng động cao liên quan tới hành động và phản ứng của những người tham gia quá trình giao tiếp đó. Trước khi thảo luận về quá trình giao tiếp trong các nội dung của quản trị bán hàng, một số cơ sở của giao tiếp cần được giải thích.

Các mục tiêu giao tiếp :

Có các cách xem xét thể loại giao tiếp khác nhau. Một trong các cách dựa vào ý nghĩa hoặc mục tiêu của thông báo. Mặc dù trong các thông báo thường có nhiều mục tiêu, nhưng thông báo có thể nhận dạng dựa vào mục tiêu ban đầu của người gửi. Có bốn mục tiêu giao tiếp khác nhau có thể nhận dạng được: thuyết phục, báo tin, tình cảm và xuyên tạc sự việc.

Thuyết phục: Mục tiêu có thể phải thuyết phục người nhận thông báo. Hầu hết các tình huống thuộc loại đó. Ví dụ, thuyết phục sử dụng khi đại diện bán hàng đàm luận với người mua, "sản phẩm của chúng tôi rất hoàn hảo đối với công ty các anh và anh sẽ tìm thấy ưu điểm trong tờ chào hàng đặc biệt của chúng tôi bây giờ", hoặc nhà quản trị có thể cố gắng thuyết phục đại diện bán hàng sử dụng các kỹ thuật bán hàng khác nhau.

Thông báo: Mục tiêu ban đầu bao gồm các yếu tố và thông tin qua các câu công bố đơn giản như "Có 62 nhà phân phối trên lãnh thổ bán hàng của các anh" hoặc "Các khoản chi phí của các anh vượt định mức 10%".

Tình cảm: Người gửi thư trong loại giao tiếp này thể hiện tình cảm nhẹ nhàng
hoặc giận dữ như: "Tôi rất lấy làm tiếc khi nghe rằng tính toán tốt nhất của các anh
đã bị đối thủ cạnh tranh biết được! Tôi có thể giúp các anh lấy lại nó thế nào đây?"
hoặc "Anh ở đâu? Anh đã được báo phải có mặt lúc 10 giờ ngày thứ sáu cơ mà!".

Xuyên tạc: Ý nghĩa của loại giao tiếp này liên quan tới thông tin giả. Ví dụ đại
diện bán hàng than phiền: "Thưa ông Jackson, sản phẩm của đối thủ cạnh tranh của
chúng ta có vấn đề về chất lượng. Tôi chắc rằng họ sắp hóa điên rồi!" hoặc, "Báo cáo
chi phí đã được gửi đi vào thứ ba, thưa xếp. Nhân viên bưu điện chắc chắn đã làm
mất chúng". Người đại diện này đang đánh lừa người nhận thông tin trong giao tiếp.

Các phương pháp giao tiếp

Nhà quản trị bán hàng cần phải phát triển các kỹ năng nói và viết của họ để họ có thể áp dụng một cách có hiệu quả trong các tình huống khác nhau. Hình 6-2 tập hợp các cách giao tiếp khá phổ biến mà nhà quản trị cần phát triển. Sự phân tích sâu các kỹ năng đó nằm ngoài phạm vi cuốn sách này. Có các chương trình riêng và sách riêng sẽ giúp cho những ai muốn nghiên cứu tiếp chuyên đề đó. ở đây mô tả một loại liên quan tới nhiệm vụ, hành vi và các kỹ năng giao tiếp của quản trị bán hàng cần cho các tình huống đó.

Các kỹ năng bằng lời. Để đạt được các mục tiêu, điều khiển được lực lượng bán
hàng, duy trì mối quan hệ công việc tốt trong tổ chức, nhà quản trị phải có khả năng
giao tiếp có hiệu quả. Chất lượng sử dụng văn nói và viết của nhà quản trị xác định
tính hiệu quả của quá trình giao tiếp. Điều đó có nghĩa nhà quản trị bán hàng khu
vực cần phải phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng văn viết và nói một cách tuyệt
hảo.

Các kỹ năng nói của nhà quản trị bán hàng có thể được phát triển nhờ những
năm bán hàng thành công. Nhà quản trị có lẽ quá quen thuộc với từng tình huống
cũng như các tình huống đối kháng của nhóm. Hầu hết các nhà quản trị bán hàng
không được mời đến diễn thuyết cho các tập đoàn lớn. Những tình huống giao tiếp đó
đòi hỏi một thực tiễn và một sự chuẩn bị đặc biệt, và không được tiếp nhận một cách
dễ dàng.

Vì một phần thời gian biểu trong tuần nhà quản trị cũng cần giao dịch bằng văn
bản với cấp dưới, cấp trên, các thành viên hội đồng công ty, khách hàng, nhà cung
ứng và những người khác ngoài công ty. Các giao dịch bằng văn bản đó là những
thông tin, ví dụ như các bản ghi nhớ với lực lượng bán hàng, các thư từ, báo cáo
hoặc sự đánh giá của đại diện bán hàng, nên chúng cần phải được rõ ràng, ngắn gọn
và chính xác.

Giao tiếp bằng cử chỉ, nét mặt. Không phải tất cả các giao tiếp đều bằng lời nói
hoặc bằng văn bản. Gsowandtner tin rằng, các cảm xúc và tình cảm được biểu thị
bằng từ ngữ chiếm 7% thời gian, bằng giọng nói chiếm 38%, và bằng ngôn ngữ con
người như điệu bộ, cử chỉ chiếm 55%, thời gian. Một số tác giả khác chỉ ra rằng, giao
tiếp không bằng lời nói có thể có sức mạnh lớn và đôi khi là dạng giao tiếp hứng thú
hơn.

Giao tiếp không bằng lời nói bao gồm các cử chỉ điệu bộ, sự biểu lộ trên nét
mặt, quần áo và sự vận động, dáng điệu của cơ thể. Một số người tin rằng, quần áo
cũng tạo ra những dấu hiệu quan trọng đối với sự thành đạt của con người. Một số
người khác giả thiết rằng hành vi của con người cũng có thông tin. Họ quả quyết
rằng, nét cau mày, nụ cười, cái gật đầu, dáng ngồi thườn thượt và các vận động khác
của con người đều là dấu hiệu của sự chấp thuận hay không chấp thuận, của sự
nhiệt tình hay không và v.v... Ví dụ, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi người

ta thật sự đồng ý với báo cáo, họ có xu hướng gật đầu đồng ý và hướng về phía
người nói. Khi họ không đồng ý hoặc từ chối, họ thường cau mày và quay lưng lại.
Nhà quản trị cần biết để hiểu được tâm trạng trong các cử chỉ vì các đại diện có thể
nói họ đồng ý với nhà quản trị trong khi cử chỉ không lời của họ lại thể hiện ngược
lại. Tuy nhiên, nhiều hành vi đó có văn hóa và cần thận trọng trong sự thể hiện.

Sự lắng nghe: Chìa khóa để giao tiếp thành công

Người ta ước tính khoảng 45% quá trình giao tiếp liên quan tới sự lắng nghe, 30% liên quan tới lời nói, 16% liên quan tới đọc và 9% liên quan tới viết. Qui trình đào tạo thường nhấn mạnh đến các kỹ năng viết, nói và đọc và hiếm khi đào tạo cách lắng nghe.

Lắng nghe là một kỹ năng mà nhà quản trị có thể học và sử dụng trong mối liên hệ với khách hàng và đại diện bán hàng. Stril giả thiết rằng có bốn giai đoạn lắng nghe và sử dụng chữ đầu SIER để nói về chúng:

1. Cảm giác (Sense). Đó là khả năng cảm giác trực tiếp khi nghe hoặc trong mối
liên hệ với các biểu thị trên nét mặt và cử chỉ hành vi.

2. Hiểu (Interpret). Đó là hiểu đang tiếp xúc với cái gì?

3. Đánh giá (Evaluate). Điều đó liên quan  đến việc quyết định cách giao tiếp thích hợp và giá trị của nó hoặc mức độ chân thực trong phạm vi những gì mà người nghe biết được.

4. Phản ứng đáp lại (Respond). Người nhận tin biểu thị hoặc bằng lời hoặc bằng cử chỉ hành vi cho người cung cấp tin biết họ đã nhận được

thông tin.

Tạo ảnh hưởng - một kỹ thuật của lãnh đạo

Nói chung, việc nghiên cứu nhận thấy các nhà quản trị khai thác sự khác nhau của chiến lược gây ảnh hưởng trong khi hợp tác với cấp dưới. Chiến lược phổ biến nhất là lý lẽ và ít phổ biến nhất là sử dụng hình thức thưởng phạt. Mặc dù chiến lược gây ảnh hưởng đó là phổ biến, chúng không phải là cái cần thiết để tạo hiệu quả cao nhất trong các trường hợp khác nhau.

Bản chất các ảnh hưởng mà nhà lãnh đạo có thể sử dụng để đảm bảo lời cam kết là gì? Hình như, sử dụng các ảnh hưởng là một phần của môi trường tổ chức và nhà quản trị thường sử dụng các chiến thuật ảnh hưởng khác nhau để làm cho cấp dưới cam kết đạt tới mục đích. Một nhà quản trị bán hàng, ví dụ, có thể sử dụng lý lẽ sau như một kỹ thuật gây ảnh hưởng đối với đại diện bán hàng cứng đầu cứng cổ rằng, vươn tới doanh số bán của công ty cũng nhằm đạt được mục tiêu gia tăng thu nhập của đại diện bán hàng dưới dạng tiền thưởng.