Hướng dẫn quy định lương khoán sản phẩm và đơn giá chi tiết

Hướng dẫn sử dụng biểu mẫu

Mục đích sử dụng

Biểu mẫu "Chương V - Quy định về lương khoán sản phẩm và đơn giá khoán sản phẩm" được xây dựng nhằm thiết lập khung pháp lý nội bộ cho việc tính toán, phân phối tiền lương đối với khối lao động trực tiếp sản xuất. Tài liệu này giúp công ty chuẩn hóa cách thức trả lương dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc thực tế của từng tổ, đội sản xuất. Đồng thời, biểu mẫu cung cấp cơ sở để tổ trưởng, đội trưởng có thể chia lương công bằng cho từng cá nhân dựa trên ngày công, giờ làm thêm và hệ số bình bầu. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo tính minh bạch, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất và gắn bó lâu dài với công ty.

Ai điền và khi nào

Biểu mẫu này do phòng Hành chính Nhân sự chủ trì soạn thảo và cập nhật, dựa trên quyết định của Ban Giám đốc công ty. Các tổ trưởng, đội trưởng, nhóm trưởng thuộc khối trực tiếp sản xuất là những người trực tiếp áp dụng quy định để tính lương cho nhân viên trong tổ, đội của mình. Việc điền và áp dụng biểu mẫu được thực hiện hàng tháng, sau khi kết thúc kỳ sản xuất và có số liệu về sản lượng hoàn thành, ngày công thực tế. Ngoài ra, bảng đơn giá khoán (Phụ lục số 5) sẽ được Ban Giám đốc xem xét và ban hành lại hàng năm hoặc khi có biến động về tiền lương chung của thị trường.

Hướng dẫn điền từng mục

  1. Quỹ lương khoán sản phẩm của tổ/đội: Căn cứ vào sản lượng hoàn thành thực tế trong tháng của từng tổ, đội, nhân với đơn giá khoán tương ứng (theo Phụ lục số 5) để tính ra tổng quỹ lương. Số liệu này do bộ phận sản xuất tổng hợp và xác nhận.
  2. Số ngày công và số giờ làm thêm thực tế: Ghi chép đầy đủ số ngày làm việc thực tế và số giờ làm thêm của từng cá nhân trong tháng. Dữ liệu này được lấy từ bảng chấm công hàng ngày do tổ trưởng theo dõi và xác nhận.
  3. Hệ số bình bầu cho từng tháng: Dựa trên kết quả bình bầu của tập thể tổ, đội về mức độ đóng góp, năng suất và chất lượng công việc của từng người lao động. Hệ số này được phân loại theo các mức A, B, C và chỉ áp dụng cho lương sản phẩm, không áp dụng cho lương cơ bản.
  4. Trị giá sản lượng trong tháng: Ghi nhận tổng giá trị sản phẩm hoàn thành của tổ, đội trong tháng, được quy đổi thành tiền dựa trên đơn giá khoán đã được phê duyệt. Đây là cơ sở để tính tổng quỹ lương sản phẩm.
  5. Công thức tính lương sản phẩm: Áp dụng công thức: Lương sản phẩm = (Tổng quỹ lương sản phẩm / Tổng hệ số lương bình bầu) x (Số ngày công + Làm thêm giờ). Kết quả tính toán cần được kiểm tra kỹ để đảm bảo không sai sót.
  6. Bảng đơn giá khoán từng đầu mục công việc: Đây là phụ lục kèm theo, liệt kê chi tiết đơn giá cho từng loại công việc sản xuất cụ thể. Đơn giá được Ban Giám đốc phê duyệt hàng năm, dựa trên đơn giá năm trước và mức trượt giá, hoặc tham khảo thị trường lao động cùng ngành.

Lưu ý quan trọng

  • Hệ số bình bầu chỉ được áp dụng để tính lương sản phẩm, tuyệt đối không dùng để tính lương cơ bản hay các khoản phụ cấp khác theo quy định.
  • Biên bản bình bầu hệ số phải được lập thành văn bản, có chữ ký của tổ trưởng và đại diện tập thể, sau đó gửi về phòng Hành chính Nhân sự trước khi tính lương hàng tháng.
  • Bảng đơn giá khoán có thể được điều chỉnh bất cứ lúc nào nếu tình hình sản xuất kinh doanh thay đổi, nhưng phải có quyết định bằng văn bản của Giám đốc công ty.
  • Người lao động cần được thông báo rõ về hệ số bình bầu và cách tính lương để đảm bảo tính minh bạch và tránh khiếu nại.
  • Mọi thay đổi về đơn giá khoán phải được cập nhật kịp thời vào Phụ lục số 5 và thông báo đến toàn bộ khối sản xuất trước khi áp dụng.

Lỗi thường gặp

  • Nhầm lẫn giữa lương sản phẩm và lương cơ bản khi áp dụng hệ số bình bầu, dẫn đến tính sai lương cho người lao động.
  • Không cập nhật kịp thời bảng đơn giá khoán khi có thay đổi về giá cả thị trường hoặc chi phí sản xuất, gây mất công bằng giữa các tổ đội.
  • Thiếu biên bản bình bầu hoặc biên bản không có đầy đủ chữ ký, khiến phòng nhân sự không có cơ sở để tính lương đúng hạn.
  • Ghi sai số ngày công hoặc số giờ làm thêm do chấm công không chính xác, ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương thực nhận của công nhân.
  • Áp dụng sai công thức tính lương, đặc biệt là nhầm thứ tự phép tính giữa tổng quỹ lương và tổng hệ số bình bầu, dẫn đến kết quả sai lệch.

Nội dung biểu mẫu

CHƯƠNG V

QUY ĐỊNH VỀ LƯƠNG KHOÁN SẢN PHẨM VÀ ĐƠN GIÁ KHOÁN SẢN PHẨM

Điều 12: Quy định về lương khoán SP

12.1. Quy định chung về lương khoán SP

 CBCNV thuộc Khối trực tiếp sản xuất sẽ hưởng lương khoán của công ty sẽ chia lương theo từng tổ, đội sản xuất. Hàng tháng Công ty căn cứ vào sản lượng hoàn thành của từng tổ, đội nhân đơn giá khoán (Phụ lục số 5 kèm theo) áp dụng cho từng công việc để tính ra quỹ lương khoán sản phẩm cho tổ, đội đó và giao cho tổ trưởng, đội trưởng, nhóm trưởng đó chịu trách nhiệm chia lương cho CBCNV thuộc tổ, đội, nhóm mình dựa trên cơ sở:

 Số ngày công và số giờ làm thêm thực tế ;

 Hệ số bình bầu cho từng tháng của cá nhân người lao động ( phân theo loại, hệ số bình bầu trong tổ đội )

 Trị giá sản lượng trong tháng.

12.2. Công thức tính lương khoán SP

Tongquyluo ngsanpham

Lương sản phẩm = x (Songaycong+ Lamthemgio)

Tonghesolu ongbinhbau

12.3 Bảng hệ số lương bình bầu của bộ phận hưởng lương khoán SP

Tiền lương của công nhân trực tiếp được trả trên cơ sở năng suất, chất lượng, hiệu quả. Căn cứ vào định mức nội bộ, kết quả công việc của người lao động để trả lương trong tháng. Việc trả lương căn cứ vào mức độ đóng góp để hoàn thành công việc của từng người lao động theo phân loại và hệ số bình bầu do tập thể CBCNV của tổ, đội, nhóm bàn bạc bình bầu và tổ trưởng, đội trưởng, nhóm trưởng lập biên bản gửi đến phòng hành chính nhân sự làm cơ sở tính lương trong kỳ.

Hệ số bình bầu chỉ áp dụng làm hệ số đối với lương sản phẩm, không áp dụng đối với lương cơ bản

Điều 13. Bảng đơn giá khoán từng đầu mục công việc bộ phận sản xuất

Bảng đơn giá khoán sản phẩm được sửa đổi bổ sung tuỳ thuộc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty do giám đốc công ty ban hành hàng năm và/hoặc có thay đổi về tiền lương chung của cả công ty.

Bảng đơn giá khoán của mỗi công ty do ban giám đốc công ty quyết định dựa trên cơ sở dơn giá khoán của năm trước liền kề và mức độ trượt giá của năm ban hành và/hoặc tham khảo đơn giá của các công ty cùng ngành nghề trên cùng địa bàn hoạt động.