Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › 332/2019/HS-ST

Bản án 332/2019/HS-ST ngày 13/11/2019 - TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 332/2019/HS-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/11/2019
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 332/2019/HS-ST
Ngày 13-11-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Ph
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Xuân Lập
- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Như M; sinh ngày 25/11/1987 tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKHKTT: tổ 3, khu 2A, phường H1, Tp H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành D, con bà: Bùi Thị H2; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 20/11/2013 bị TAND Tp H xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 23/01/2016 chấp hành xong hình phạt tù. Chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/6/2006 bị TAND Tp H xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản. Ngày 06/9/2012 đã chấp hành xong bản án. Bị bắt ngày 10/6/2019. Hiện tạm giam; Có mặt.
Người làm chứng:
+./ Trịnh Quang H3, sinh năm 1995. Nơi cư trú: tổ 7, khu 1B, phường C, Tp H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có lý do.
+./ Phạm Mạnh Q, sinh năm 1991. Nơi cư trú: tổ 4, khu 6, phường H4, Tp H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11giờ 15phút ngày 10/6/2019 tại khu vực Đài truyền hình Quảng Ninh thuộc tổ 8, khu 2A, phường H1, Tp H, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Như M có hành vi tàng trữ 0,893gam Methamphetamine mục đích bán kiếm lời; Quá trình điều tra M khai nhận trước đó vào trưa ngày 09/6/2019 đã bán cho Phạm Mạnh Q 01 túi ma túy giá 400.000đ tại khu vực Đài truyền hình Quảng Ninh, tiếp đến khoảng 11giờ ngày 10/6/2019 cũng tại địa điểm trên M bán cho một người đàn ông tên T01 túi ma túy với giá 250.000đ. Nguồn gốc số ma túy bán cho Q và Tlà ngày 08/6/2019 Nguyễn Như M ra khu vực đường bao biển cột 5, phường Hồng Hà, Tp H mua của một người đàn ông tên L nhà ở phường H4, Tp H 1,5gam ma túy đá giá 1.500.000đ, chia thành 6 túi nhằm mục đích để bán kiếm lời. Sau khi bán cho Q 01 túi, T01 túi còn lại 04 túi ma túy M cất giấu mục đích bán với giá 250.000đ/01 túi thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Như M: Tại túi quần bên trái đang mặc có 03 túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp nhựa KT khoảng (1,5x1,5)cm, bên trong mỗi túi chứa cục chất tinh thể màu trắng (Kí hiệu từ M1 đến M3); 01 xe môtô Yamaha Sirius màu đen trắng BKS 14X1-250.14; Trong cốp xe môtô BKS 14X1- 250.14 có 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp nhựa KT khoảng (2x2)cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng (Kí hiệu M4); 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu đen bạc kèm sim; 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu vàng kèm sim và 240.000đ.
Kết luận giám định số 493/GĐMT ngày 14/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: chất tinh thể màu trắng (Kí hiệu từ M1 đến M4) trong phong bì niêm phong ghi vật chứng thu giữ của Nguyễn Như M gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng: 0,893gam. Hoàn lại đối tượng giám định M1: 0,08 gam; M2: 0,11gam; M3: 0,11gam; M4: 0,33gam.
Xe môtô Yamaha Sirius màu đen trắng BKS 14X1-250.14 qua xác minh thể hiện: BKS 14X1-250.14 được cấp cho xe máy nhãn hiệu Honda Vision của chị Phạm Thị H5; số khung, số máy chiếc xe trên là của xe Yamaha Sirius BKS 38F1- 059.14 chủ xe là anh Hà Xuân Ph. Chị H5, anh Ph đã bán từ lâu, không biết ai là chủ sở hữu. Kết luận giám định số 106/GĐSK,SM ngày 12/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: số khung, số máy của xe môtô gửi giám định không bị tẩy, xóa, đục lại. Do chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, làm rõ xử lý sau.
Cáo trạng số 289/CT-VKSHL ngày 04/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Như M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ, giải thích việc công bố bản án theo quy định của pháp luật, việc mua bán ma túy không có ai cùng tham gia và xin được hưởng khoan hồng của pháp luật. Xe môtô BKS 14X1-250.14 là của bị cáo mua tháng 4/2019 của người không quen biết với giá 12.000.000đ không làm giấy mua bán, chiếc xe cơ quan tách ra làm rõ xử lý sau bị cáo không có ý kiến gì; 240.000đ bị cáo do lao động mà có, 02 chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội bị cáo xin được nhận lại.
Phạm Mạnh Q có lời khai xác nhận đã mua ma túy của M nhiều lần nhưng chỉ nhớ được cụ thể lần gần nhất ngày 09/6/2019 mua 01 túi giá 400.000đ. Hành vi sử D trái phép chất ma túy của Q đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Nguyễn Như M khai mua ma túy của L và bán ma túy cho T nhưng không xác định được lai lịch, nhân thân nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Người làm chứng Trịnh Quang H3 có lời khai xác nhận chứng kiến cơ quan công an bắt giữ Nguyễn Như M và thu giữ vật chứng.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Như M từ 8 đến 9 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu đen bạc; 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu vàng và 240.000đ; Truy thu 650.000đ của bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan Thành tố tụng, người Thành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Thành tố tụng, người Thành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi mua bán ma túy của Nguyễn Như M phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11giờ 40phút ngày 10/6/2019; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và các kết luận giám định.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 09/6/2019 tại khu vực Đài truyền hình Quảng Ninh, Nguyễn Như M bán trái phép cho Phạm Mạnh Q 01 túi ma túy giá 400.000đ; khoảng 11giờ ngày 10/6/2019 cũng tại địa điểm trên M bán trái phép cho một người đàn ông tên T01 túi ma túy với giá 250.000đ. Đến hồi 11giờ 15phút ngày 10/6/2019 M tàng trữ 0,893 gam Methamphetamine mục đích bán kiếm lời thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Như M đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)...
b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
Đối tượng L và T không xác định được lai lịch, nhân thân nên không có căn cứ xử lý.
Phạm Mạnh Q đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 190/QĐ-XPVPHC ngày 22/8/2019 của Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nên không đề cập giải quyết.
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, đã từng bị Tòa án xét xử, trong các bản án có tội danh về ma túy và chưa thi hành xong phần dân sự của bản án nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng mà còn tiếp tục mua bán trái phép ma túy nhằm mục đích kiếm lời bất chính thể hiện sự coi thường pháp luật cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: năm 2013 Nguyễn Như M bị xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tu về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa bị cáo và ông Nguyễn Thành D (bố đẻ bị cáo) khai đã nộp 200.000đ theo Bản án ngày 20/11/2013 cho một người không rõ lai lịch, địa chỉ ngay tại Tòa án thành phố H vào ngày xét xử vụ án và đã gửi Biên lai thu tiền án phí đến Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, biên bản xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, ngày 10/7/2019 thể hiện không có ai đến nộp án phí theo Bản án số 291/2013/HSST và Phiếu thông tin phạm nhân của Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 23/7/2019 thể hiện án phí hình sự 200.000đ chưa hoàn nên không có căn cứ để xác định bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Như vậy, bị cáo chưa thi hành xong bản án, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo đã tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[5] Về vật chứng: Lượng ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy; 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu đen bạc, 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu vàng và 240.000đ là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Xe môtô Yamaha Sirius màu đen trắng BKS 14X1-250.14 chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, làm rõ xử lý sau, HĐXX không xem xét giải quyết.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng. Số tiền 650.000đ bị cáo bán trái phép chất ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Như M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Như M 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2019.
Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 493/GĐMT ngày 14/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Truy thu 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước; Trả lại Nguyễn Như M 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu đen bạc; 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu vàng và 240.000đ (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 41/BB - THA ngày 08/11/2019 tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố H).
Căn cứ Điều 331, 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- VKS; CA; THADS Tp H;
- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Thanh Tâm
Từ khóa:
332/2019/HS-ST Bản án 332/2019/HS-ST Bản án số 332/2019/HS-ST Bản án 332/2019/HS-ST của TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Bản án số 332/2019/HS-ST của TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Bản án 332 2019 HS ST của TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 332/2019/HS-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/11/2019

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 332/2019/HS-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/11/2019
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan