Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › Hôn nhân và gia đình › 21

Bản án 21 ngày 29/03/2019 về Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình - TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 21
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 29/03/2019
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2019.
V/v: “Ly hôn giữa anh H và chị H”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lê Văn Viện.
Bà: Ngô Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa:
Ông: Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 180/2018/TLST-HNGĐ ngày 17/12/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh: Trần Văn H Sinh năm: 1987(Vắng mặt)
Địa chỉ:Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Chị Trần Thị H
Sinh năm: 1991(Vắng mặt)
Địa chỉ:Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Hiện đang tạm trú tại Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2018 được bổ sung tại bản tự khai ngày 17/12/2018, nguyên đơn anh Trần Văn H trình bày: Anh và chị Trần Thị H kết hôn vào ngày 13/10/2010, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Từ năm 2015 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chị H về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Trần Quỳnh N sinh ngày 20/10/2011. Hiện cháu đang ở cùng chị. Nay ly hôn anh đề nghị được nhường quyền nuôi con chung cho chị H.
Về tài sản; công nợ chung: vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Trần Văn H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/01/2019, bị đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị và anh Trần Văn H bắt đầu chung sống từ năm 2010, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Đinh. Sau khi cưới vợ chồng chung sống bình thường đến cuối năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không hòa hợp về lối sống, tính cách, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh H hay đi đánh bạc, không chăm lo cho gia đình. Anh H bỏ nhà đi từ năm 2013, chị cùng con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Đến năm 2015-2016, khi chị bị bệnh nặng nên anh H có quay về thăm chị nhưng sau đó đi tiếp. Cuối năm 2017 chị đã vào ấp P, xã P, huyện C sống. Chị và anh H đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2013 cho đến nay. Nay anh H xin ly hôn, chị đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Trần Quỳnh N sinh ngày 20/10/2011. Hiện cháu đang ở cùng chị. Nay ly hôn, anh H nhường quyền nuôi con chung cho chị, chị đồng ý và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản; công nợ chung: vợ chồng không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Trần Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị H; Về con chung: Giao chị Trần Thị H trực tiếp nuôi con chung là Trần Quỳnh N sinh ngày 20/10/2011, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn H và chị Trần Thị H có đơn thỏa thuận đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giải quyết vụ án hôn nhân gia đình. Vì vậy căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Anh H và chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Anh Trần Văn H và chị Trần Thị H kết hôn vào ngày 13 tháng 10 năm 2010, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[3] Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống do vợ chồng không có sự hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Từ cuối năm 2013 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay anh H và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ; anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, chị H nhất trí. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa anh H và chị H nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn H đối với chị Trần Thị H.
[4] Về con chung: Vợ chồng anh chị 01 con chung là Trần Quỳnh N sinh ngày 20/10/2011. Hiện cháu đang ở cùng chị H. Sau khi xem xét ý kiến của các đương sự cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung nên giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh H và chị H cùng xác định vợ chồng không có tài sản, công nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[6] Về án phí: Anh Trần Văn H phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn H và chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1.Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị H.
2.Về nuôi con chung: Giao chị Trần Thị H trực tiếp nuôi con chung là Trần Quỳnh N sinh ngày 20/10/2011, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền thăm nom con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0002137 ngày 17/12/2018.
4.Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn H và chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh, huyện;
- Chi cục THA huyện Nam Trực;
- UBND xã N;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Mạnh Cường
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh, huyện;
- Chi cục THA huyện Nam Trực;
- UBND xã Nam Dương;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Phạm Mạnh Cường
- Lưu VP.
Từ khóa:
21 Bản án 21 Bản án số 21 Bản án 21 của TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Bản án số 21 của TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Bản án 21 của TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 21
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 29/03/2019

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 21
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 29/03/2019
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan