Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › Hôn nhân và gia đình › 122/2025/HNGĐ-ST

Bản án 122/2025/HNGĐ-ST ngày 13/09/2025 về Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình - Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 122/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/09/2025
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG
Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-9-2025
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thâm phan - Chu toa phiên toa: Bà Trần Thị Bích Ân.
Các Hôi thâm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Hữu Tin;
+ Bà Nguyễn Thị Ánh Minh.
Thư ky phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Nhạn - Thư ky Toa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sat nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Anh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ ly số: 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/3/2025 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Anh B, sinh năm 1989. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Minh Th, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khối phố H, phường Q, thành phố Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Anh B trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Lê Minh Th kết hôn vào ngày 25/02/2011, có đăng ky kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân của chúng tôi là hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th thường xuyên cờ bạc, gái gú về đánh đập hù doạ giết vợ. Tôi đã nhiều lần nhờ công an khu vực vào can thiệp nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Hiện tôi và anh Th đã không con sống chung và tôi đã về nhà mẹ đẻ sống được hơn 6 tháng. Nay, tôi xét mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không con, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Minh Th.
- Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung:
+ Lê Thị Anh Th, sinh ngày 01/01/2016.
+ Lê Minh P, sinh ngày 05/6/2011;
Khi ly hôn, nguyện vọng của tôi là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Thị Anh Th, giao cháu Lê Minh P cho anh Lê Minh Th trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Lê Minh Th vắng mặt không có ly do nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải. Anh Th không gửi văn bản ghi y kiến của mình nên Toa án không ghi nhận được y kiến của anh Th.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ky, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt lần thứ hai không có ly do nên đề nghị Toa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B, xử cho chị Huỳnh Thị Anh B được ly hôn với anh Lê Minh Th; Về con chung: Giao cháu Lê Thị Anh Th, sinh ngày 01/01/2016 cho chị B; giao cháu Lê Minh P, sinh ngày 05/6/2011 cho anh Th nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị Anh B và anh Lê Minh Th tranh chấp ly hôn và nghĩa vụ nuôi con chung khi ly hôn. Hiện nay, anh Th có hộ khẩu thường trú tại khối phố Hoà Hạ, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Lê Minh Th đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có ly do. Do đó, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Huỳnh Thị Anh B và anh Lê Minh Th kết hôn vào ngày 25/02/2011, có đăng ky kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân của hai người là hoàn toàn tự nguyện nên được pháp luật công nhận.
Xét tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị B, anh Th thì thấy: Theo chị B trình bày, trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th thường xuyên cờ bạc, gái gú về đánh đập hù doạ giết vợ, mặc dù chị B đã nhiều lần nhờ công an khu vực vào can thiệp nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Hai người đã sống ly thân đến nay đã hơn sáu tháng nên tình cảm vợ chồng không con, chị B không thể tiếp tục chung sống với anh Th nên chị yêu cầu Toa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Th vẫn vắng mặt không có ly do. Điều này cho thấy, anh Th không có thiện chí mong muốn đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Mặc khác, hai người đã sống ly thân đến nay đã hơn sáu tháng cũng đủ cho thấy mâu thuẫn giữa hai người đã đến mức trầm trọng không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân. Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận mâu thuẫn giữa chị B và anh Th đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B, xử cho cho chị B được ly hôn với anh Lê Minh Th.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng chị B, anh Th có 02 con chung:
+ Lê Minh P, sinh ngày 05/6/2011;
+ Lê Thị Anh Th, sinh ngày 01/01/2016.
Nguyện vọng của chị B là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Thị Amnh Th, giao cháu Lê Minh P cho anh Lê Minh Th trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị B thì thấy:
Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Toa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại bản tự khai, cháu Lê Minh P có nguyện vọng được ở với ba; cháu Lê Thị Amnh Th có nguyện vọng ở với mẹ. Đồng thời, theo trình bày của chị B, từ khi hai người sống ly thân, cháu Phú ở cùng với ba và ông bà nội, cháu Thư ở cùng chị B. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và không làm xáo trộn việc học hành và nguyện vọng của các cháu nên cần giao cháu Lê Thị Anh Th cho chị B, giao cháu Lê Minh P cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về an phí: Chị Huỳnh Thị Anh B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì cac lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Toa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Anh B về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” đối với bị đơn anh Lê Minh Th.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Anh B được ly hôn với anh Lê Minh Th.
- Về con chung: Giao cháu Lê Thị Anh Th, sinh ngày 01/01/2016 cho chị Huỳnh Thị Anh B; giao cháu Lê Minh P, sinh ngày 05/6/2011 cho anh Lê Minh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng chon đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toa án giải quyết.
- Về án phí: Án phí sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Huỳnh Thị Anh B phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001879 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ (nay là Phong Thi hành án dân sự Khu vực 5 – Đà Nẵng). Chị B đã nộp đủ án phí DS-ST.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13-9-2025); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./. Nơi nhận:
- TAND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 5 – Đà Nẵng;
- Cơ quan THADS khu vực 5 – Đà Nẵng
- UBND xã Tam Xuân;
- Các đương sự
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Ân
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Từ khóa:
122/2025/HNGĐ-ST Bản án 122/2025/HNGĐ-ST Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST Bản án 122/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Bản án 122 2025 HNGĐ ST của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 122/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/09/2025

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 122/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 13/09/2025
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan