Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › Hôn nhân và gia đình › 96

Bản án 96 ngày 11/11/2019 về Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình - TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 96
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 11/11/2019
TÒA ÁN NHÂN DÂN
huyện lục ngạn
Tỉnh bắc giang
Bản án số: 96/2019/HNGĐ-ST
Ngày 11- 11- 2019.
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Nhân danh
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Toà án nhân dân huyện lục ngạn
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
Ông Nguyễn Tất Bẩy.
Th- ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 366/2019/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019 về việc “ Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/ QĐXX - ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị P - Sinh năm 1984. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V - Sinh năm 1981. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số 1 - Trại giam N - Bộ công an.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 13/8/2019, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị P trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn với nhau từ ngày 30/11/2007. Trước khi kết hôn anh chị có được tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Chị P xác định phát sinh từ cuối năm 2015 đến tháng 11 năm 2016 thì mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên hai vợ chồng hay xảy ra tranh cãi và anh V có quan hệ với người phụ nữ khác, sau lại phạm tội cướp tài sản nên phải đi thụ án từ tháng 11 năm 2016 đến nay tại trại giam N. Vì vậy vợ chồng chị sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
* Về con chung: Chị P xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Như N, sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Hồng P, sinh ngày 01/11/2014. Hiện hai con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
* Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai, biên bản ghi lời khai ngày 15/10/2019, bị đơn anh Nguyễn Văn V trình bày:
Anh và chị Trần Thị P kết hôn với nhau từ ngày 30/11/2007. Trước khi kết hôn có được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh V xác định phát sinh nguyên nhân do anh có quan hệ với người phụ nữ khác, sau lại phạm tội cướp tài sản nên phải đi thụ án từ tháng 11 năm 2016 đến nay tại trại giam N. Vì vậy vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị P xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên anh muốn chị P suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung khôn lớn, trưởng thành. Nếu chị P nhất mực xin ly hôn anh thì anh cũng đành chấp nhận.
* Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Như N, sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Hồng P, sinh ngày 01/11/2014. Hiện hai con chung đang ở cùng chị P. Sau khi ly hôn con lớn có nguyện vọng được ở với chị P, con thứ hai còn nhỏ, anh đang phải thụ án nên không trực tiếp nuôi dưỡng các được. Vì vậy chị P nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung thì anh không có ý kiến gì.
* Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 13/9/2019 cháu Nguyễn Như N là con chung của chị P và anh V trình bày: Cháu có biết việc bố mẹ cháu có mâu thuẫn trong hôn nhân và không thể chung sống cùng với nhau được nữa. Hiện tại cháu đang ở với mẹ. Cháu yêu quý cả hai bố mẹ, nhưng cháu yêu mẹ nhiều hơn. Nếu bố mẹ cháu không ở cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ Phương. Mong Tòa án chấp nhận nguyện vọng của cháu.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng nh- giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị P nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung là Nguyễn Như N, sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Hồng P, sinh ngày 01/11/2014. Tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn V. Sau khi ly hôn, anh V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng vào phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có nơi cư trú tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và anh đã có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị P và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị P và anh V cùng xác định vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V có quan hệ với người phụ nữ khác, sau lại phạm tội cướp tài sản nên phải đi thụ án từ tháng 11 năm 2016 đến nay đị trại giam N vì vậy vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn V. Anh V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên anh muốn chị P suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung khôn lớn, trưởng thành. Nếu chị P nhất mực xin ly hôn anh thì anh cũng đành chấp nhận.
Vì vậy Tòa án đã tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh V, nhưng anh V đang phải chấp hành án tại Trại giam N không đến Tòa án được và chị P có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể chung sống cùng anh V được nữa nên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được ly hôn với anh V. Xét chị P và anh V sống ly thân nhau đã lâu. Chị P và anh V đều xác định thời gian chung sống có mâu thuẫn nguyên nhân do anh có quan hệ với người phụ nữ khác, sau anh V phạm tội phải đi thụ án nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 11 năm 2016 đến nay.Chị P xin ly hôn, anh V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và muốn chị P suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị P nhất mực xin ly hôn thì anh cũng đành chấp nhận.Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị P và anh V đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Phương xin ly hôn anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Cần cho chị Trần Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
- Về con chung: Chị Trần Thị P và anh Nguyễn Văn V đều xác định vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Như N, sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Hồng P, sinh ngày 01/11/2014. Do hai con chung hiện đang ở cùng chị P và cháu Ngọc có nguyện vọng ở với chị P, chị P nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Anh V hiện đang phải chấp hành án tại: Phân trại số 1 - Trại giam N - C10 - Bộ công an (huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) nên không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị P nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung thì anh V không có ý kiến gì. Để đảm bảo quyền lợi của con chung Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Như N và cháu Nguyễn Hồng P cho chị P được nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn V. Sau khi ly hôn anh V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thị P và anh Nguyễn Văn V đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Trần Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị P nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Như N, sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Hồng P, sinh ngày 01/11/2014. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn V. Sau khi ly hôn, anh V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị P đã nộp đủ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0005656 ngày 22/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
5. Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án xét xử vắng mặt.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Lục Ngạn;
- TAND Tỉnh Bắc Giang;
- THADS huyện lục ngạn;
- Đương sự;
- UBND xã N;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Lương Thị Ngọc Hà
Từ khóa:
96 Bản án 96 Bản án số 96 Bản án 96 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Bản án số 96 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Bản án 96 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 96
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 11/11/2019

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 96
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 11/11/2019
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan