TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 60/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 11 - 2019
V/v “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Chung
2. Ông Danh Sang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Toán – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang: Ông Trang Minh Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành- Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 309/2019/TLST-HNGĐ ngày 28/8/2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐST - HNGĐ ngày 22/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị Đ, sinh năm 1994 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp TH, xã TL, huyện CT, tỉnh KG
2. Bị đơn: Anh Danh S, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp TH, xã TL, huyện CT, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn chị Thị Đ trình bày:
Vào năm 2015, chị và anh Danh S chung sống với nhau có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện CT, KG. Thời gian đầu anh chị chung sống rất hòa thuận và có 02 người con chung tên: Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018.
Thời gian đầu vợ chồng anh chị sống hạnh phúc và rất yêu thương nhau nhưng đến khoảng giữa năm 2018 thì giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau, do đó anh chị đã ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn.
Tại phiên tòa chị Thị Đ có ý kiến:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Danh S.
- Về việc nuôi con chung: Xin nuôi 02 người con chung tên: Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018. Chị không yêu cầu anh Sự phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu Tòa án giải quyết.
Đối với các ý kiến của anh Danh S: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa cho bị đơn anh Danh S nhiều lần theo đúng trình tự do Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng anh Danh S vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ, quá trình giải quyết và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Về nội dung vụ án: xét thấy việc yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Thị Đ là có căn cứ đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Đ thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh KG.
[2] - Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn chị Thị Đ yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Danh S và yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
[3] - Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn Danh S đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định của pháp luật. Nhưng anh Danh S vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thị Đ yêu cầu xét xử vắng mặt bị đơn anh Danh S theo quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Danh S.
[4] - Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Thị Đ cho rằng vào năm 2015, chị và anh Danh S chung sống với nhau có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện CT, tỉnh KG. Thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn dù vợ chồng dã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, đến năm 2017 thì ly thân từ đó cho đến nay. Chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ năm 2017 cho đến nay chị và anh Danh S đã sống ly thân cho đến nay, không có liên hệ với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa chị Thị Đ và anh Danh S đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, tại phiên tòa chị Đ cương quyết yêu cầu xin được ly hôn với anh Danh S. Do đó việc xin ly hôn của chị Thị Đ đối với anh Danh S là hoàn toàn có căn cứ phù hợp tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Đ đối với anh Danh S.
[5] - Về quan hệ con chung: chị yêu cầu được nuôi 02 người con chung tên: Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018. Không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay 02 người con chung tên Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018 đang sinh sống với chị Đ. Mặc khác, 02 người con chung tên Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018 hiện tại còn rất nhỏ, dưới 36 tháng tuổi. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 người con chung tên Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sinh hoạt và sự phát triển bình thường của các cháu.
[6] - Về tài sản chung: Chị Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
[7] - Về nợ chung vợ chồng: Chị Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
[8] - Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, nên ghi nhận để xem xét.
[9] - Về án phí: Áp dụng Điêu 147 Bô luât tô tung dân sư năm 2015; Điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 01 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc nguyên đơn chị Thị Đ phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng chị Đ được khấu trừ vào sô tiên tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiên sô 0005117 ngày 13/8/2019 của Chi cuc thi hanh án dân sự huyện Châu Thành.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56; Điều 57; Điều 80; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 01 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Thị Đ đối với bị đơn anh Danh S
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Thị Đ được ly hôn với bị đơn anh Danh S.
2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung tên Danh Chí H, sinh ngày 21/12/2017 và Danh Nhựt C, sinh ngày 03/4/2018 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Danh S được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Chị Thị Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Thị Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Thị Đ phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng chị Đ được khấu trừ vào sô tiên tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiên sô 0005117 ngày 13/8/2019 của Chi cuc thi hanh án dân sự huyện Châu Thành
6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Lưu: hồ sơ, V.phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Mai Tấn Đẩu