TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 75/2019/HS-ST
Ngày 19-11-2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Phạm Thị Bấm
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Bùi Sơn T, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Tập thể công nhân A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 21B tập thể A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Phạm Thị X và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 46/2016/HSST ngày 06/4/2016, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 08/8/2019, tạm giam ngày 09/8/2019; có mặt.
2. Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1977 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Chung cư C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N và bà Vũ Thị H2; có vợ là Bùi Thị T1 và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 127/2010/HSST ngày 14/9/2010, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tại Bản án số 01/2015/HSST ngày 06/01/2015, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 08/8/2019, tạm giam ngày 09/8/2019; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 ngày 08/8/2019, Công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng bắt quả tang Bùi Sơn T và Nguyễn Xuân T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại đầu ngõ 270 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói nilon kích thước 2x2cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và 01 xe máy YAMAHA nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 16K2-1981.
Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng số 433/2019/PC09 ngày 12/8/2019 kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3604 gam là loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Sơn T và Nguyễn Xuân T1 khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 07/8/2019, Bùi Sơn T đến nhà Nguyễn Xuân T1 rủ T1 đến quán điện tử trên đường Quán Nam chơi. Sau khi chơi điện tử xong, khoảng 00 giờ 05 phút ngày 08/8/2019 thì cả hai nảy sinh ý định mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng. T nói với T1: “Em còn 250.000 đồng, em với anh đi mua ma túy về sử dụng”. T1 đồng ý và dùng xe máy YAMAHA nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 16K2-1981 chở T đến đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để mua ma túy. Đến nơi, T1 đứng ở ngoài đợi, còn T đi vào đường tàu mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng. Mua được ma túy, T và T1 đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến đầu ngõ 270 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì bị công an phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền bắt quả tang cùng vật chứng.
Đối với xe máy YAMAHA nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 16K2-1981 qua xác minh đến nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, vì vậy, chưa có căn cứ để xử lý, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tiếp tục tạm giữ, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSNQ ngày 31 tháng 10 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố Bùi Sơn T và Nguyễn Xuân T1 đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Sơn T khai thống nhất với lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân T1. Bị cáo T và bị cáo T1 khai nhận hành vi thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố. Cả hai bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo T khai bản thân có thời gian tham gia quân ngũ (từ năm 2011 đến năm 2013) và giao nộp cho Hội đồng xét xử 01 Quyết định về việc quân nhân xuất ngũ số 63/QĐ-XN ngày 14/01/2013 của Trung đoàn 43 Sư đoàn 395.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Bùi Sơn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo T và bị cáo T1. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo T và bị cáo T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
[1] Điều tra viên Công an quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo T1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:
[3] Các bị cáo Bùi Sơn T và Nguyễn Xuân T1 đều khai nhận: Ngày 08/8/2019, tại đầu ngõ 270 đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, bị cáo T và bị cáo T1 đã cất giữ trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3604 gam với mục đích sử dụng cho bản thân.
[4] Lời khai nhận của bị cáo T và bị cáo T1 tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
[5] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Sơn T và bị cáo Nguyễn Xuân T1 đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Xét nhân thân của các bị cáo:
[6] Bị cáo Bùi Sơn T có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 46/2016/HSST ngày 06/4/2016, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 có 02 tiền án đã xóa án tích: Bản án số 127/2010/HSST ngày 14/9/2010, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Bản án số 01/2015/HSST ngày 06/01/2015, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hai bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị cơ quan pháp luật xét xử nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục phạm tội, cho thấy các bị cáo là người coi thường pháp luật nên phải xử lý nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Bị cáo Bùi Sơn T và bị cáo Nguyễn Xuân T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Sơn T và bị cáo Nguyễn Xuân T1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo Bùi Sơn T có thời gian tham gia quân đội. Do vậy bị cáo Nguyễn Xuân T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo Bùi Xuân T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Bị cáo Bùi Sơn T và bị cáo Nguyễn Xuân T1 đều không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[10] 01 phong bì niêm phong sau giám định số 433/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[11] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bùi Xuân T, hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Về án phí:
[12] Bị cáo T và bị cáo T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Sơn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 08 tháng 8 năm 2019.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân T1 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 08 tháng 8 năm 2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định số 433/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 11 năm 2019 giữa Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Sơn T và bị cáo Nguyễn Xuân T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND quận Ngô Quyền;
- Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục Thi hành án dân sự
Quận Ngô Quyền;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;
- PV27 Công an thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan THA hình sự Công an quận Ngô
Quyền;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hoài