TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 85/2019/HS-ST
Ngày: 23-10-2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BT, TỈNH BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Ông Trịnh Ngọc Hồng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến-Thư ký tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố BT, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Nhà Văn hóa PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2019/HSST ngày 17 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN H, sinh năm 1980;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 115B, ấp AP, xã AK, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mai D, sinh năm 1953; Có vợ: Đặng Kim T, sinh năm 1982; Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006;
Tiền án:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2017/HSST ngày 23/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố BT đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HSST ngày 01/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố BT đã xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS;
Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2019 cho đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1970;
Nơi cư trú: Số 03, Đường số B, ấp ATA, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Số 348D, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/7/2019, bị cáo Nguyễn Văn H đi bộ ngang nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ T ở số 3, đường số 7, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì nhìn thấy nhà của bà T không đóng cửa, bên trong có dựng 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA, màu trắng - đen nên nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong lấy trộm. Để thực hiện ý định, bị cáo H lén lút đi vào bên trong nhà của bà T lấy chiếc xe đạp điện dẫn ra ngoài lộ rồi lên xe điều khiển chạy đến nhà của ông Nguyễn Quốc H ở 348D, khu phố 3, phường 8, thành phố BT bán được 1.100.000 đồng. Sau đó thì hành vi của bị cáo bị phát hiện. Vật chứng thu giữ: 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA màu trắng – đen, số sườn 11064206ASAMA.
Theo Bảng Kết luận định giá trị tài sản số 711/KL-HĐĐG ngày 02/8/2019 của Hội đồng định giá thành phố BT kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA màu trắng, đen, số sườn 11064206ASAMA, trị giá tài sản ngày 25/7/2019 là 4.250.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 82/KSĐT-KT ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung cáo trạng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; năm 2017 và 2018 bị cáo bị Tòa án kết án về tội trộm cắp tài sản, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đề nghị xem xét cho bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Ghi nhận bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Ghi nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc H cũng không yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 1.100.000 đồng do mua xe đạp điện đã bị thu hồi trả cho bị hại nên ghi nhận.
Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã xác định, đồng thời yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BT, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, tuy nhiên bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo bồi thường và họ có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của những người này cũng không trở ngại cho việc xét xử, cũng không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, vào ngày 25/7/2019, tại nhà số 3, đường số 7, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Mỹ T 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA màu trắng – đen, trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.250.000 đồng.
[4] Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 4.250.000 đồng. Với lỗi cố ý trực tiếp và vì động cơ tư lợi, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo đã tái phạm, vừa chấp hành xong án phạt tù xong, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản cáo trạng số 82 ngày 16/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý. Bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, gây khó khăn trong cuộc sống, kinh tế và sinh hoạt của họ, gây mất trật tự, an toàn xã hội và bất bình trong Nhân dân nên cần nghiêm trị theo quy định của pháp luật, nhằm để cải tạo giáo dục bị cáo cũng như để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, phải nuôi con còn nhỏ nên có chiếu cố xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không cần thiết áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên ghi nhận; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc H cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.100.000 đồng do mua xe đạp điện nhưng đã bị thu hồi nên ghi nhận.
[9] Về Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BT trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ T 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA màu trắng – đen.
Đối với ông Nguyễn Quốc H khi mua xe đạp điện do bị cáo bán không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm ông H là phù hợp quy định pháp luật.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H: 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2019.
2. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000(Hai trăm ngàn) đồng;
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bến Tre (1b);
- VKSND thành phố BT (1b);
- Công an thành phố BT (1b);
- Chi cục THA dân sự thành phố BT (1b);
- Trung tâm TGPLNN tỉnh Bến Tre (1b);
- Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
- UBND xã AK, h.CT, t.Bến Tre (1b);
- NTGTT (3b);
- Bộ phận thi hành án hình sự (2b);
- Lưu (văn phòng; hồ sơ vụ án) (2b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Nguyễn Thị Đoan Trang
