TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1156/2025/DS–ST
Ngày: 25-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Bích Thuận
Bà Nguyễn Thị Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân
dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực A – Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 175/2025/TLST-
DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1379/2025/QĐXXST–DS ngày 08 tháng 8
năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2539/2025/QĐST–DS ngày 03
tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; Địa chỉ trụ sở: Số A đường P,
phường Sài G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu A; Địa chỉ:
Số B đường Nam Kỳ Khởi N, phường Xuân H, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn
bản ủy quyền ngày 30/7/2025. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Đỗ Hà P; Địa chỉ: Số D đường số E, phường An Hội T,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q có người đại diện hợp
pháp bà Nguyễn Thu A trình bày:
Ông Đỗ Hà P có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q (sau đây gọi tắt là
“VIB”) theo Hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 104060120.23 ngày 29/12/2023:
Mục đích vay: Mua xe ô tô bán tải FORD Ranger Raptor, biển số 51D-945.10.
Thời hạn vay: 72 tháng.
Lãi suất vay: 10,00%/năm, ưu đãi trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
Sau đó, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm
cộng biên độ 3,90%/năm.
Ngày 30/12/2023, VIB đã giải ngân cho ông Đỗ Hà P với số tiền 888.000.000
đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 104076591.23.
Trong thời gian thực hiện HĐTD, ông Đỗ Hà P đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ
thanh toán. Tính đến ngày 03/9/2025, ông Đỗ Hà P đã trả được 58.597.241 đồng, trong
đó: 37.002.000 đồng tiền gốc và 21.595.241 đồng tiền lãi.
VIB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ, nhưng ông Đỗ Hà P vẫn không
hợp tác trả nợ. Khoản nợ của ông Đỗ Hà P đã chuyển sang quá hạn từ ngày 02/5/2024.
Tính đến ngày 25/9/2025, ông Đỗ Hà P còn nợ VIB với tổng số tiền là
1.047.909.648 đồng, bao gồm: Nợ gốc 850.998.000 đồng, nợ lãi trong hạn 94.386.237
đồng, nợ lãi quá hạn 102.525.411 đồng.
VIB đề nghị Tòa án nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh xem
xét, giải quyết:
Ông Đỗ Hà P phải thanh toán ngay cho VIB toàn bộ số tiền nợ tính đến
ngày 25/9/2025 là 1.047.909.648 đồng, bao gồm: Nợ gốc 850.998.000 đồng, nợ
lãi trong hạn 94.386.237 đồng, nợ lãi quá hạn 102.525.411 đồng.
Ông Đỗ Hà P tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 26/9/2025 cho đến khi thanh
toán hết nợ cho VIB.
Tài sản thế chấp: 01 xe ô tô FORD Ranger Raptor, biển số 51D-945.10, theo
hợp đồng thế chấp số 0032996.23 ngày 29/12/2023, nguyên đơn không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Toà án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc
thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo về kết quả phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án
ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên toà đối với
bị đơn là ông P nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do.
Do ông P vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa
ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa,
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà A giữ các yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông P vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia
tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ
tục tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q khởi kiện ông P phải trả số tiền còn nợ
theo hợp đồng tín dụng, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo kết
quả xác minh của Công an Phường 14, quận Gò Vấp thì ông P có đăng ký tạm
trú tại địa chỉ số D đường số E, phường An Hội T, hiện nay không còn cư ngụ
từ ngày 23/4/2025 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
quận Gò Vấp, nay là Tòa án nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh
theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính,
Luật tư pháp của người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật tổ chức hòa giải,
đối thoại tại tòa án năm 2025.
Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, nay là Tòa án nhân dân khu vực A –
Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ Thông báo về việc
thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo về kết quả phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án
ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên toà đối với
ông P theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 nhưng ông P vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ
luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét
xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những
vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không
giải quyết.
Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương
sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng
cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo
những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn ông P vắng
mặt, không đến Tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên
Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để
xem xét, giải quyết.
[2.2] Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông P thanh toán ngay số tiền nợ tính
đến ngày 25/9/2025 là 1.047.909.648 đồng, bao gồm: Nợ gốc 850.998.000 đồng,
nợ lãi trong hạn 94.386.237 đồng, nợ lãi quá hạn 102.525.411 đồng; Hội đồng
xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 104060120.23 ngày 29/12/2023; Đơn đề
nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 30/12/2023 được ký giữa Ngân hàng
TMCP Q với ông P và Phiếu giải ngân số 204951076 ngày 30/12/2023; cùng lời
trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở xác
định nguyên đơn đã cấp tín dụng cho ông P số tiền 888.000.000 đồng, mục đích
thanh toán tiền mua xe ô tô bán tải FORD Ranger Raptor, biển số 51D-945.10,
lãi suất 10,00%/năm, ưu đãi trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân, sau
đó, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản
phẩm cộng biên độ 3,90%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã thanh toán tiền gốc là 37.002.000
đồng nên số nợ gốc còn lại là 850.998.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 466 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 “1. Bên vay tiền thì phải trả đủ tiền đủ tiền khi đến
hạn;” và tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ
sung một số điều năm 2017 “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín
dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự
thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng” đối chiếu tại khoản
4.3 của Điều khoản và Điều kiện cấp tín dụng kèm theo hợp đồng tín dụng ngày
29/12/2023 có thỏa thuận ngân hàng được quyền thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn
lại trước thời hạn. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu
cầu trả nợ gốc 850.998.000 đồng trước hạn là có cơ sở để chấp nhận.
Căn cứ khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “5. Trường hợp
vay có lãi khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải
trả lãi…” và tại khoản 1, 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2017 “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và
phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ
trong hoạt động kinh doanh của tồ chức tín dụng”
“2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, mức
phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tồ chức tín dụng theo quy định
của pháp luật”.
Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 02/5/2024, Ngân hàng đã
chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất trong hạn là
phù hợp; đối với tiền lãi chậm trả tính theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định
tại khoản 1.4.6 của Điều khoản và Điều kiện cấp tín dụng kèm theo hợp đồng
tín dụng ngày 29/12/2023. Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày
25/9/2025, tiền nợ lãi trong hạn 94.386.237 đồng, nợ lãi quá hạn và nợ lãi chậm
trả là 102.525.411 đồng, nguyên đơn yêu cầu ông P phải trả số nợ lãi này là có cơ
sở để chập nhận.
Từ các phân tích nêu trên, Ngân hàng yêu cầu ông P phải thanh toán số
nợ gốc 850.998.000 đồng, nợ lãi trong hạn 94.386.237 đồng, nợ lãi quá hạn và lãi
chậm trả 102.525.411 đồng, tổng cộng 1.047.909.648 đồng là có cơ sở để chấp
nhận theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2010.
[2.3] Ngân hàng yêu cầu ông P còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày
26/9/2025 theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến
khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hợp đồng thế chấp số
0032996.23 ngày 29/12/2023 đối với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô FORD
Ranger Raptor, biển số 51D-945.10 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 43.437.289 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 20.014.542 đồng tiền tạm ứng
án phí cho nguyên đơn.
[5] Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;
7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 94, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều
271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2
Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật
tố tụng hành chính, Luật tư pháp của người chưa thành niên, Luật phá sản và
Luật tổ chức hòa giải, đối thoại tại tòa án năm 2025;
Khoản 1, khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2010;
Luật phí và lệ phí;
Luật thi hành án dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Ông Đỗ Hà P chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q các
khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2025 là 1.047.909.648 đồng, bao
gồm: Nợ gốc 850.998.000 đồng, nợ lãi trong hạn 94.386.237 đồng, nợ lãi quá hạn
và lãi chậm trả 102.525.411 đồng; theo hợp đồng tín dụng số 104060120.23
ngày 29/12/2023; ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/9/2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Hà P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh
lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được
tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đỗ Hà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 43.437.289 đồng.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.014.542
đồng theo Biên lai thu số 0057611 ngày 17/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa
hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo
tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND khu vực A – TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Hồng Cúc