Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › 366

Bản án 366 ngày 06/11/2019 - TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 366
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 06/11/2019
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 366/2019/HS-ST
Ngày 06-11-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 379/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 387/2019/QDXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Xóm B, xã H Gi, huyện H Kh, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số 145/10 khu phố T Th, phường T B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; bị cáo có 07 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền sự: Không;
Tiền án:
- Ngày 15/9/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Th A, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 258/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2011;
- Ngày 29/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 327/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2013;
- Ngày 16/7/2013, bị Tòa án nhân quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 190/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2015, chưa đóng án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2019 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Đặng Hồng Th, sinh năm 1963; thường trú: Số 774 Quốc lộ 1K, khu phố N H 2, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Hữu Ngh, sinh năm 1963; thường trú: Số 5B/11 khu phố N H 2, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
1. Ông Huỳnh Thu Th, sinh năm 1960; vắng mặt.
2. Ông Vũ Minh S, sinh năm 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ là người sử dụng trái phép chất ma túy và người không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/8/2019, Nguyễn Văn Đ đón xe mô tô chở khách từ cầu vượt L X thuộc quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh đến nhà chị gái thuộc phường T B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương để chơi. Khi đến ngã tư B Th thuộc khu phố N H 1, phường B A, thị xã D A thì người điều khiển xe mô tô chở khách dừng xe chờ đèn đỏ. Đ quan sát thấy trong nhà số 3A/11 đường Quốc lộ 1K thuộc khu phố N H 2, phường B A có 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 đang dựng trong nhà, mở cửa không người trông coi. Lúc này, Đ trả tiền xe cho người điều khiển xe mô tô chở khách rồi đi bộ vào trong nhà số 3A/11 đường Quốc lộ 1K thuộc khu phố N H 2, phường B A tiếp cận xe mô tô biển số 61D1-89723, rồi Đ cho xe mô tô lùi ra khỏi nhà, khi đưa xe đến hành lang đường Quốc lộ 1K, Đ quay đầu xe, mở khóa xe và đề máy xe để tẩu thoát thì ông Đặng Hồng Th và bà Huỳnh Thu Th phát hiện truy hô và nắm đuôi xe kéo lại làm xe mô tô ngã ra đường Quốc lộ 1K. Đ bỏ chạy thì bị người đi đường là ông Vũ Minh S bắt giữ và giao cho Công an phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương xử lý.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1- 89723.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 177/BB.ĐG ngày 21/8/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen - đỏ - bạc, số khung: 3905HY531486, số máy: JA39E056629, biển số 61D1- 89723, có trị giá 17.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận định giá tài sản số 177/BB.ĐG ngày 21/8/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 do ông Trần Hữu Ngh đứng tên chủ sở hữu. Ông Ngh cho ông Đặng Hồng Th mượn đi công việc, ông Th chưa kịp trả xe cho anh Ngh thì Đ chiếm đoạt. Xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 đã thu hồi đã trả lại cho ông Ngh.
Cáo trạng số: 398/CT - VKS ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại Đặng Hồng Th, bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 do ông Trần Hữu Ngh đứng tên chủ sở hữu. Ông Ngh cho ông Đặng Hồng Th mượn đi công việc, ông Th chưa kịp trả xe cho anh Ngh thì Đ chiếm đoạt. Xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 đã thu hồi đã trả lại cho ông Ngh.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/8/2019 tại địa chỉ số 3A/11 đường Quốc lộ 1K thuộc khu phố N H 2, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của bị hại Đặng Hồng Th, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1- 89723, có trị giá 17.000.000 đồng.
[3] Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã lén lút chiếm đoạt tài sản có trị giá 17.000.000 đồng, bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 398/CT-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo có cha là ông Nguyễn Văn C được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo đã nhiều lần xét xử về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích đồng thời là người không có nghề nghiệp, sử dụng trái phép chất ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân xấu đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục hành vi phạm tội, bị cáo muốn kiếm tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu của bản thân mà bị cáo cố tình chiếm đoạt tài sản của bị hại đồng thời tình hình trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn dân cư thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương diễn ra hết sức tinh vi phức tạp, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo là người không có nghề nghiệp, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại Đặng Hồng Th, bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 do ông Trần Hữu Nghĩa đứng tên chủ sở hữu. Ông Ngh cho ông Đặng Hồng Th mượn đi công việc, ông Th chưa kịp trả xe cho anh Ngh thì Đ chiếm đoạt. Xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61D1-89723 đã thu hồi đã trả lại cho ông Nghĩa là đúng quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/8/2019.
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
- VKSND thị xã Dĩ An (01);
- Công an thị xã Dĩ An (03);
- Chi cục THA thị xã Dĩ An (01);
- TAND tỉnh Bình Dương (01);
- Người tham gia tố tụng (05);
- Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
- THA hình sự (04);
- UBND xã, phường bị cáo thường trú (01);
- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
- Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
- Lưu: VT, HSVA (02).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Ngọc Công
Từ khóa:
366 Bản án 366 Bản án số 366 Bản án 366 của TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Bản án số 366 của TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Bản án 366 của TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 366
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 06/11/2019

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 366
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 06/11/2019
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan