TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 86/2019/DS-PT
Ngày: 22/11/2019
V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Với A phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Chinh
Ông Quách Văn Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Đỗ Văn Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2019/DSPT ngày 13 tháng 9 năm 2019 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện ĐS, Thanh Hóa bị kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của VKSND huyện ĐS. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 74/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H - sinh năm 1952 (có măt).
Địa chỉ: Thôn YT, xã ĐY, huyện ĐS,Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Bà Hà Thị N - sinh năm 1959 (có măt).
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị A - sinh năm: 1944 (Vắng măt).
Địa chỉ: Thôn B Cộng, xã Đông B, TP.Thanh Hóa, Thanh Hóa.
3.2. Bà Lê Thị B - sinh năm: 1954 (Vắng măt).
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3.2. Bà Lê Thị C - sinh năm: 1959 (Có măt).
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3.3. Chị Lê Thị D - sinh năm: 1989 (Vắng măt)
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3.4. Anh Lê Văn Đ - sinh năm: 1992 (Vắng măt)
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3.5. Ông Nguyễn Minh E - sinh năm: 1968 (Vắng măt)
Địa chỉ: SN 39A, Phố LKT, p.LKT, TP. Hải Phòng.
3.6. Chị Nguyễn Thị Thủy G - sinh năm: 1971 (Vắng măt)
Địa chỉ: Thôn YC 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa.
3.7. Chị Nguyễn Thị F - sinh năm: 1972 (Vắng măt)
Địa chỉ: Công ty may măc Việt Nhật, xã BM, huyện CC, TP Hô Chi Minh.
* Ngươi bảo vệ quyền và lơi ich hơp pháp cho chị Lê Thị D:
Bà Lê Thị P - Trơ giúp viên pháp lý (Có măt)
Công tác tại: Trung tâm trơ giúp pháp lý Nhà nươc tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Số 32, Đại lộ Lê Lơi, phương Điện Biên, TP Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 7 năm 2018, ban tư khai và tai các phiên hoa giai nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bố mẹ bà là cụ Lê Văn K và cụ Nguyễn Thị M sinh đươc 07 ngươi con gôm: bà Lê Thị X (đã chết năm 2016) bà X có 3 con là Nguyễn Minh Y, Nguyễn Thị Thủy G và Nguyễn Thị F, bà Lê Thị A, ông Lê Văn V (đã hy sinh khi chưa lập gia đinh), bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, bà Lê Thị H và ông Lê Văn Đ có vơ là bà Hà Thị N. Vơ chông ông Đ có hai con là Lê Thị D và Lê Văn Q. Ông Đ đã chết năm 2002. Cụ K và cụ M có tổng diện tich đất là 530m2 đất tại thửa 477, tơ bản đô số 03 bản đô địa chinh xã ĐY, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa đã có giấy chưng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện ĐS cấp ngày 27/10/1994. Năm 2002 cụ M mất không để lại di chúc. Năm 2008 cụ K mất không để lại di chúc. Ngày 03/3/2007 cụ Lê Văn K cung các con trong gia đinh hop và thống nhất tăng cho bà H quyền sử dụng đất là 200m2, trong đó đất ở là 100m2, đất vươn là 100m2.Sau khi đươc cụ K tăng cho 200m2 đất bà H đã làm đây đủ các thủ tục kê khai, tách thửa và xin cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 09/5/2008 bà H đã đươc UBND huyện ĐS cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất diện tich 200m2 tại thửa 987 tơ bản đô số 3 bản đô địa chinh xã ĐY, huyện ĐS. Diện tich đất còn lại 311m2 mang tên cụ Lê Văn K tại thửa 988 tơ bản đô số 1 bản đô địa chinh xã ĐY, giấy chưng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ K.
Sau khi cụ K chết, toàn bộ diện tich đất và nhà do bà Hà Thị N (là vơ ông Đ) quản lý, sử dụng. Do bà N xây C phân đất của bà H đươc chia nên bà H đã khởi kiện yêu câu bà N trả lại đất. Vào ngày 29/11/2017 Tòa án nhân dân huyện ĐS đã xử hủy giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số AB 943836 do UBND huyện ĐS cấp cho bà H ngày 09/5/2008. Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà H về việc buộc bà N trả lại cho bà H 32,4m2 đất. Ngày 10/5/2018 UBND huyện ĐS đã ban hành quyết định số 1091/QĐUBND: Thu hôi 02 giấy chưng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ K và bà H. Công nhận và giữ nguyên giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số E 0310830 do UBND huyện ĐS cấp cho cụ Lê Văn K ngày 27/10/1994.
Nay bà H đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ gôm nhà cấp 4 xây dựng từ năm 1986 không còn giá trị sử dụng trên thửa đất rộng 530m2 tại thửa 477 tơ bản đô số 3 bản đô địa chinh xã ĐY tại địa chỉ thôn Yên Cẩm 2, xã ĐY, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Trong đó chia cho bà H 200m2 đất phân đất cụ K đã cho năm 2007 theo hô sơ tăng cho ngày 08/5/2007, phân còn lại chia đều cho các đông thừa kế. Tạm tinh phân của bà H đươc hưởng là 250m2 trị giá khoảng 62.500.000đ.
* Theo ban tư khai và tai các phiên hoa giai, quan điểm của bà Hà Thị N trình bày:
Chông bà là ông Lê Văn Đ (chết năm 2002 ) là con trai của cụ K và cụ M. Bà là con dâu duy nhất của cụ K và cụ M. Từ khi cươi cho đến khi chông bà chết đến nay bà vẫn ở trên đất của cụ K và cụ M. Tuy phải dạy hoc xa nhà nhưng tất cả công việc trong gia đinh như chăm sóc bố mẹ chông khi ốm đau, ma chay, giỗ tết bà và các chị chông đều gánh vác trong trách. Năm 2002 cụ M chết không để lại di chúc, đến năm 2008 cụ K chết có lập di chúc trong đó có cho cháu Q 4 gian nhà và số diện tich đất còn lại. Toàn bộ diện tich đất và nhà của cụ K và cụ M hiện nay bà đều Đg quản lý sử dụng.
Tháng 6 năm 2014 bà N có xây nhà và công trinh phụ trên đất của cụ K, cụ M. Mục đich để thơ cúng bố mẹ, anh trai chông là liệt sĩ Lê Văn V và chông. Tổng chi phi khoảng hơn 500.000.000đ. Bà N cho rằng việc bà xây nhà và công trinh phụ là xây trên đất nguyên thổ của cụ K, cụ M, bà không biết gi về việc cụ K cho bà H đất và diện tich đất của bà H cụ thể là bao nhiêu, ranh giơi thế nào bà cũng không biết. Tại sao cụ K và cụ M có 05 ngươi con còn sống nhưng chỉ có minh bà H đươc cụ K cho đất. Việc cụ K cho bà H đất bà là con dâu nhưng không hề biết gi. Bà N không nhất tri yêu câu đòi chia 200m2 của bà H vi giấy chưng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H đã bị hủy và bị thu hôi. Nếu bà H còn cố tinh đòi thi đề nghị Tòa án xem xét hủy hơp đông tăng cho quyền sử dụng 200m2 ngày 08/5/2007 giữa bà H và cụ K. Còn yêu câu chia di sản thừa kế đối vơi tài sản của cụ K và cụ M để lại của bà H thi bà N cũng không nhất tri vi cụ K đã có di chúc tăng cho toàn bộ tài sản trên cho cháu Q.
Trong quá trinh giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà N xin rút yêu câu chia di sản thừa kế theo di chúc. Đề nghị Tòa án chia theo pháp luật nhưng để nguyên đất và nhà thơ để làm nơi thơ cúng. Không yêu câu trich đền bu công sưc duy tri bảo quản khối tài sản, không yêu câu xem xét phân tài sản bà N đã xây dựng trên thửa đất Đg tranh chấp.
* Đôi vơi ngươi co quyền lơi, nghia vu liên quan:
Các bà Lê Thị Thành, Lê Thị B, Lê Thị C, anh Nguyễn Minh Y, chị Nguyễn Thị Thủy G, chị Nguyễn Thị F, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D đều khai thống nhất: Cụ Lê Văn K và cụ Nguyễn Thị M có 7 ngươi con trong đó có ông V hy sinh khi chưa có gia đinh, bà X chết có các con là anh Y, chị G, chị F, ông Đ chết có các con là chị D và anh Q. Cụ M mất năm 2002 không để lại di chúc, cụ K mất năm 2008 không để lại di chúc. Tài sản của cụ K và cụ M là quyền sử dụng diện tich đất đất 530m2 và 01 ngôi nhà cấp 4 (đã đươc bà N sửa C tu bổ lại) tại thôn Yên Cẩm 2, xã ĐY, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cụ K mất, toàn bộ tài sản trên do bà N (vơ ông Đ) và chị D, anh Q quản lý sử dụng. Nay bà H yêu câu đươc chia 200m2 theo hơp đông tăng cho giữa cụ K và bà H ngày 08/5/2007 thi tất cả đều không nhất tri. Nếu chia di sản thừa kế theo pháp luật thi bà A, bà B, bà C, anh Đ, chị D đều đề nghị đươc chia để đảm bảo quyền lơi, các đương sự đều thống nhất không yêu câu phân định rạch ròi ky phân của từng ngươi mà tuyệt đối phải giữ nguyên đất và nhà thơ. Phân của bà H đươc chia đề nghị tinh trị giá bằng tiền vi bà H đã có nơi ăn chốn ở ổn định, hơn nữa diện tich đất bà H đươc chia không đủ điều kiện để cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng. Mục đich của các đương sự đều nhất tri giữ nguyên để bảo tôn di sản, đề nghị Tòa án tôn trong tâm nguyện của các đương sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm bà Lê Thị H đề nghị Tòa án chia cho bà H 200m2 đất phân đất cụ K đã cho năm 2007 theo hô sơ tăng cho ngày 08/5/2007, phân còn lại chia đều cho các đông thừa kế.
Bà N, bà Thành, bà B, bà C, anh Q, ngươi bảo vệ quyền và lơi ich hơp pháp cho chị D đều thống nhất chia di sản thừa kế theo pháp luật và không chấp nhận yêu câu chia 200m2của bà H.
Tất cả các đương sự đều thống nhất không yêu câu xem xét phân chi phi đám ma, giỗ, Tết, xây dựng, sửa C phân mộ của cụ K và cụ M. Nhất tri vơi kết quả định giá ngày 03/10/2018 xác định thửa đất số 482 có giá trị 250.000đ/m2, tinh A tiền là 132.500.000đ (một trăm ba mươi hai triệu năm trăm nghin đông).
Liên quan đến diện tich đất 530m2 tại thửa 477, tơ bản đô số 03 bản đô địa chinh xã ĐY, huyện ĐS của cụ K và cụ M trươc đó đã xảy ra tranh chấp giữa bà H và bà N và đã đươc các cấp Tòa án xét xử như sau:
* Tai Ban án dân sư sơ thẩm sô 01/2015/DSST ngày 21/9/2015, Toa án nhân dân huyện ĐS quyết định:
- Buộc bà Hà Thị N phải thanh toán lại cho bà Lê Thị H số tiền 8.100.000đ tương đương vơi 32,4m2 đất đã lấn chiếm.
- Bác toàn bộ yêu câu phản tố của bà Hà Thị N cho rằng Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất do Cơ quan nhà nươc cấp cho bà Lê Thị H không đúng trình tự, thủ tục.
Bà Hà Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm.
* Tai Ban án dân sư phúc thẩm sô 08/2016/DSST ngày 22/01/2016, Toa án nhân dân tỉnh Thanh Hoa quyết định: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2015/DSST ngày 21/9/2015 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Giao cho TAND huyện ĐS giaiả quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
* Tai ban án sô 03/2017/DS-ST ngày 29/11/2017, Toa án nhân dân huyện ĐS quyết định:
- Đinh chỉ xét xử đối vơi phân rút yêu câu khởi kiện của bà Lê Thị H đối vơi bà Hà Thị N là 38,24m2 đất.
- Hủy giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số AB943836, diện tich 200m2 (trong đó đất ở 100m2, đất cây lâu năm 100m2) tại thửa số 987, tơ bản đô số 03 bản đô địa chinh xã ĐY mang tên bà Lê Thị H do UBND huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 09/5/2008.
- Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị H về việc buộc bà Hà Thị N trả lại cho bà H diện tich 32,4m2.
Hiện nay bản án số 03/2017/DS-ST ngày 29/11/2017, Tòa án nhân dân huyện ĐS Đg có hiệu lực pháp luật.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện ĐS, Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 5 Điều 26; Điều 39; các khoản 1 , 5 Điều 147; điểm g khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; các Điều 271;, 273; 278 của BLTTDS năm 2015; Các Điều 124; 137; khoản 2 Điều 689; khoản 4 Điều 723 BLDS năm 2005; Các Điều 129; 131; 620; 623; 649; 650; 651; 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phi, lệ phi Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phân yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Đinh chỉ xét xử đối vơi việc rút yêu câu chia di sản thừa kế theo di chúc của bà Hà Thị N.
2. Hơp đông tăng cho quyền sử dụng đất số 62/07 TAngày 08/5/2007 giữa cụ Lê Văn K vơi bà Lê Thị H là vô hiệu. Không chấp nhận yêu câu về việc chia 200m2 đất của bà Lê Thị H.
3. Chấp nhận yêu câu chia di sản thừa kế theo pháp luật của nguyên đơn và tất cả các thừa kế.
- Xác nhận di sản của cụ Lê Văn K và cụ Nguyễn Thị M để lại là thửa đất số 482 tơ bản đô số 1diện tich theo GCNQSD là 530m2, đo thực tế là 624m2 trên thửa đất có nhà lơp ngói 4 gian tại thôn Yên Cẩm 2, xã ĐY, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Thửa đất 482 trị giá 132.500.000đ (một trăm ba mươi hai triệu năm trăm nghin đông).
- Xác nhận các thừa kế thuộc hàng thừa kế thư nhất có: Bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, bà Lê Thị H và thừa kế thế vị là của bà Lê Thị X là anh Nguyễn Minh Y, chị Nguyễn Thị Thủy G, chị Nguyễn Thị F, các thừa kế thế vị của ông Lê Văn Đ có anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D.
- Xác nhận các thừa kế thế vị của bà Lê Thị X là anh Nguyễn Minh Y, chị Nguyễn Thị Thủy G, chị Nguyễn Thị F từ chối nhận di sản.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Thị N về việc không yêu câu trich công sưc quản lý di sản, không yêu câu giải quyết phân tài sản đã xây dựng trên đất.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đông thừa kế gôm bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D về việc không chia di sản cho từng thừa kế mà giữ nguyên hiện trạng để làm nhà thơ và nơi sinh H của các thừa kế trong các ngày giỗ, tết.
- Chia di sản thừa kế cho 05 thừa kế 530m2 theo giá trị quyền sử dụng đất là 132.500.000đ, mỗi thừa kế đươc 106m2 đất trị giá là 26.500.000đ (hai mươi sáu triệu năm trăm nghin đông). Bà Lê Thị H đươc chia 26.500.000đ (hai mươi sáu triệu năm trăm nghin đông).
- Các thừa kế Lê Thị A, Lê Thị B, Lê Thị C, anh Lê Văn Đ, chị Lê Thị D đươc sử dụng phân đất của bà H nên các bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C mỗi ngươi phải thanh toán cho bà H số tiền là 6.625.000đ (sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghin đông). Anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung phải thanh toán cho bà Lê Thị H là 6.625.000đ, mỗi ngươi là 3.312.500đ (Ba triệu ba trăm hai mươi hai nghin năm trăm đông).
- Bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C mỗi ngươi đươc sử dụng 106m2 đất. Anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung đươc sử dụng 106m2 đất. B àLê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung đươc sử dụng 106m2 phân đất của bà Lê Thị H tại thửa đất số 482 tơ bản đô số 1. Còn lại 94,5m2 đất tại thửa đất số 482, tơ bản đô số 1 tại thôn Yên Cẩm 2, xã ĐY, huyện ĐS, Thanh Hóa giao quyền quản lý cho các bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D để sử dụng G cho các thừa kế.
Các bà Lê Thị Thành, Lê Thị B, Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D có trách nhiệm liên hệ vơi các cơ quan chưc N làm thủ tục cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phi và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 27/7/2019, nguyên đơn bà Lê Thị H kháng cáo vơi các nội dung:
- Đề nghị xem xét lại hô sơ cho tăng của cụ K cho bà H là hơp pháp;
- Đề nghị đươc chia ky phân thừa kế bằng đất.
* Tai QĐKN sô 01/QĐKNPT – VKS – ĐS ngày 31/7/2019,VKSND huyện ĐS kháng nghị ban án DSST sô 01/2019/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện ĐS, Thanh Hóa: Đề nghị TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hương:
- Đinh chỉ xét xử đối vơi việc rút yêu câu chia di sản thừa kế theo di chúc của bà N.
- Đinh chỉ giải quyết đối vơi yêu câu của bà Lê Thị H về nội dung đòi 200m2 đất;
- Căn cư diện tich đất thực tế 624m2 để chia đều cho 5 thừa kế, bà Lê Thị H đươc chia theo giá trị phân di sản bằng tiền là 31.200.000đ (124,8m2 x 250.000đ/m2). Buộc bà A, bà B, bà C, anh Đ, chị D phải thanh toán tiền tài sản cho bà H vơi số tiền trên.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, bổ sung thêm nội dung đề nghị hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm có nhiều sai sót.
- Đại diện VKDSND tỉnh Thanh Hóa rút 02 nội dung kháng nghị về đề nghị đinh chỉ xét xử đối vơi việc rút yêu câu chia di sản thừa kế theo chúc của bà N và đinh chỉ giải quyết đối vơi yêu câu của bà Lê Thị H về nội dung đòi 200m2 đất; Giữ nguyên nội dung kháng nghịvề việc yêu câu chia thừa kế theo hiện trạng đất.
Các đương sự không thỏa thuận đươc vơi nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến của Trơ giúp viên bảo vệ quyền, lơi ich hơp pháp cho chị D:
+ Nguyên đơn kháng cáo đòi chia kỉ phân thừa kế của minh bằng đất. Tuy nhiên, các đông thừa kế khác đều thống nhất không chia di sản thừa kế của ông K bà M mà giữ nguyên hiện trạng để làm nơi thơ cúng và giao cho mẹ con bà N quản lý, trông coi, sử dụng; Hiện nay mảnh đất là di sản cụ K và cụ M phân lơn đã đươc xây dựng làm nhà thơ tổ tiên và hai liệt sĩ, phân đất còn lại phia trươc và phia sau không vuông vắn nên việc chia kỉ phân thừa kế bằng đất cho bà H là không thể thực hiện đươc; Bà H cũng có nơi ăn chốn ở ổn định, nên việc chia di sản bằng đất cho bà H là không cân thiết.
+ Đối vơi kháng nghị: Bản án Sơ thẩm năm 2017, đã hủy giấy chưng nhận quyền sử dụng đất diện tich 200m2 mang tên bà H theo yêu câu phản tố phia bị đơn là bà N do quy trinh cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất cho bà H không đúng thủ tục, việc cấp giấy sai so vơi hiện trạng sử dụng đất. Nhưng bản án chưa xét về giá trị pháp lý của hơp đông tăng cho của ông K cho bà H, hơp đông này vi phạm cả về nội dung lẫn hinh thưc theo quy định của pháp luật; Bị đơn cũng có yêu câu xem xét tinh pháp lý của hơp đông tăng cho ngày 08/5/2007.
Về kháng nghị chia di sản thừa kế là 624m2 là vươt quá yêu câu của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện chỉ yêu câu chia di sản thừa kế của bố mẹ là đất có diện tich 530m2. Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất tên ông Lê Văn K cũng chỉ ghi nhận diện tich đất là 530m2.
Trơ giúp viên pháp lý đề nghị Hội đông xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, kháng nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
* Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
- Về tố tụng: Quá trinh giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm thi Thẩm phán, HĐXX, những ngươi tham gia tố tụng đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đông xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa Căn cư khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà H về chia di sản là đất; Chấp nhận một phân kháng nghị số 01 ngày 31/7/2019 của VKSND huyện ĐS, sửa bản án sơ thẩm theo hương: Chia thừa kế đối vơi diện tich 624m2 đất cho 5 thừa kế; Sửa án phi sơ thẩm.
Sau khi nghiên cưu các tài liệu có trong hô sơ vụ án, đã đươc thẩm tra tại phiên toà. Sau khi nghe lơi trinh bày, tranh luận của trơ giúp viên, đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm bà Lê Thị H là nguyên đơn kháng cáo án sơ thẩm, đơn kháng cáo làm trong thơi hạn và nộp tạm ưng án phi theo quy định của pháp luật, nên đươc xem xét theo trinh tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm có nhiều sai sót. Tuy nhiên, nội dung kháng cáo này đã hết thơi hạn kháng cáo và vươt quá phạm vi kháng cáo ban đâu, nên căn cư Khoản 2 Điều 284 BLTTDS không chấp nhận.
Xét đơn đề nghị của bà Lê Thị B xin nhận thừa kế bằng đất, không chấp nhận sử dụng đất của bà H và không có điều kiện để thanh toán tài sản cho bà H. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bà B không có đơn kháng cáo, nên nội dung đề nghị này của bà không đươc cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.
Một số ngươi có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan đã đươc tống Đ quyết định xét xử 02 lân, bà A, anh Đ, chị D có đơn đề nghị xét xử vắng măt. Bà B, anh E, chị G, chị F vắng măt, những ngươi này đã đươc tòa án tống Đ hơp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, việc vắng măt không làm cản trở việc giải quyết vụ án, nên căn cư Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng măt là phù hơp.
[2] Xét kháng cáo của bà H thấy rằng:
-Về đề nghị xem xét lai hồ sơ cho tặng của cu K cho bà H là hơp pháp:
Xét hơp đông tăng cho giữa cụ Lê Văn K và bà Lê Thị H số 62/07 TA ngày 08/5/2007 tăng cho bà H 200m2. Bên tăng cho có tên cụ K và cụ M (đã chết). Việc tăng cho là ý chi định đoạt của cụ K nên việc ghi tên cả cụ M là không đúng. Khi tăng cho bà H 200m2 cụ K chưa có sự phân định phân tài sản riêng của cụ K, phân tài sản riêng của cụ M trong khối tài sản G của vơ chông theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 1959, không có ý kiến của các thành viên trong gia đinh. Do quy trinh cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất cho bà H không đúng thủ tục, việc cấp giấy sai so vơi hiện trạng sử dụng đất, nên Hơp đông tăng cho quyền sử dụng đất 200m2 giữa cụ K và bà H không có giá trị pháp lý do vi phạm khoản 4 Điều 723 BLDS năm 2005 về nội dung. Hơp đông tăng cho không đươc công chưng hay chưng thực, không tuân thủ theo quy định của pháp luật, vi phạm khoản 2 Điều 689 BLDS năm 2005 về hinh thưc. Do vậy, Hơp đông tăng cho quyền sử dụng đất ngày 08/5/2007 giữa cụ Lê Văn K và bà Lê Thị H là vô hiệu. Do có sự tranh chấp về quyền sử dụng đất nên bà Hà Thị N đã yêu câu hủy giấy chưng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H đã đươc giải quyết tại bản án số 03/2017/DS-ST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện ĐS do cấp sai trinh tự, thủ tục. Ngày 10/5/2018 UBND huyện ĐS đã ban hành quyết định số 1091/QĐ-UBND thu hôi và hủy Giấy chưng nhận quyền sử dụng đất số AB 943836 mang tên bà Lê Thị H. Công nhận và giữ nguyên trich lục quyền sử dụng đất số E 0310830 cấp ngày 27/10/1994, diện tich đất 530m2 (đất ở 200m2, đất vươn 330m2), đại diện chủ sử dụng đất ông Lê Văn K. Dodó, không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà H.
- Về yêu cầu chia di san bằng đất: Di sản của cụ K và cụ M để lại là 624m2 đất. Thửa đất có chiều rộng măt đương là 10m37, đươc chia cho 5 thừa kế, mỗi thừa kế đươc 2m074. Các thừa kế gôm bà A, bà B, bà C, anh Đ, chị D thống nhất không chia di sản là đất cho các thừa kế mà giữ nguyên hiện trạng đất để làm nhà thơ và làm nơi sinh H G. Căn cư khoản 2 Điều 143 Luật đất đai năm 2013; Điểm a khoản 2 Điều 4 Quyết định số 4463 ngày 12/12/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, quy định kich thươc cạnh tối thiểu phải từ 4m trở lên. Như vậy vơi kich thươc cạnh đươc chia của mỗi thừa kế là 2m074 không đủ điều kiện để tách thửa theo quy định. Bản án sơ thẩm xác định giá trị của diện tich đất đươc chia để chia cho bà H giá trị bằng tiền là có căn cư phu hơp quy định pháp luật. Kháng cáo của bà H yêu câu chia di sản là đất là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Xét kháng nghị của VKSND huyện ĐS:
- Về nội dung kháng nghị đình chỉ xét xử đôi vơi việc rút yêu cầu chia di san thừa kế theo chúc của bà N và nội dung kháng nghị đình chỉ giai quyết đôi vơi yêu cầu của bà H về đoi 200m2 đất:
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện VKS tỉnh Thanh Hóa rút các nội dung kháng nghị này, nên căn cư Khoản 3 Điều 289 BLTTDS đinh chỉ giải quyết nội dung rút kháng nghị là phu hơp.
-Về nội dung kháng nghị yêu cầu chia di san diện tích 624m2 đất (theo diện tích đo hiện trang) thấy rằng:
Di sản của cụ K và cụ M để lại là thửa đất số 447, tơ bản đô số 3, diện tich 530m2; trên thửa đất có một ngôi nhà cấp 4 lơp ngói 4 gian. Tại biên bản hòa giải ngày 02/11/2018 các thừa kế đều đề nghị chia di sản thừa kế của cụ K, cụ M để lại theo pháp luật.
Căn cư văn bản số 284/UBND-TNMT ngày 01/3/2019 của UBND huyện ĐS thi diện tich đo đạc thực tế ngày 03/10/2018 thửa đất 447 tơ bản đô số 3 bản đô địa chính xã ĐY có diện tich 624m2 (tăng 94m2). Xác định nguyên nhân đất của cụ K tăng là do trong quá trinh sử dụng đất các hộ liền kề có sự biến động và chủ yếu do sai số trong quá trinh xác định mốc giơi khi đo đạc hô sơ địa chinh; UBND huyện đề nghị căn cư diện tich đo đạc ngày 03/10/2018 diện tich 624m2 đã đươc trich đo hô sơ địa chinh, hiện trạng sử dụng đất của cụ K đã đươc các hộ liền kề ký giáp gianh và đươc UBND xã ĐY; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện ĐS xác nhận để làm căn cư giải quyết. Như vậy diện tich đất thừa kế của cụ K, cụ M là đất thổ cư đã đươc hinh A và sd ổn định trươc năm 1980, nên căn cư điều 103 Luật đất đai 2013 và điều 24 NĐ 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chinh phủ quy định thi hành luật đất đai 2013 để xác định chia thừa kế là 624m2 nên đươc chia đều cho 5 thừa kế, mỗi thừa kế đươc hưởng 124,8m2 tương ưng số tiền 31.200.000đ. Kháng nghị của VKS ĐS chia di sản là diện tich 624m2 đất cho các thừa kế là có căn cư chấp nhận.
Do xác định lại phân trị giá tài sản đươc chia cho các thừa kế nên cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phi sơ thẩm. Án sơ thẩm buộc bà C và anh Đ chịu án phi chênh lệch tài sản cho bà H mà không buộc án phi DSST có giá ngạch tương ưng vơi phân tài sản thừa kế đươc chia là không phu hơp. Do đó, cân sửa án sơ thẩm theo hương buộc bà C và anh Đ chịu án phi phân tài sản thừa kế đươc chia, mà không buộc án phi chênh lệch tài sản cho bà H.
[3] Về án phí: Măc du kháng cáo không đươc chấp nhận nhưng căn cư điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 bà H đươc miễn tiền án phí DSPT.
Vi các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 2 Điều 227 ; Khoản 2 Điều 284; Khoản 3 Điều 289; Khoản 1, 2 Điều 308; Điều 309; BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phi, lệ phi Tòa án.
Xử:
1. Đinh chỉ giải quyết nội dung kháng nghị đối vơi việc rút yêu câu chia di sản thừa kế theo chúc của bà N và nội dung kháng nghị đinh chỉ giải quyết đối vơi yêu câu đòi 200m2 đất của bà H.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Chấp nhận một phân kháng nghị của VKSND huyện ĐS. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện ĐS, Thanh Hóa về xác định diện tich đất là di sản thừa kế và án phí DSST như sau:
- Xác định di sản của cụ Lê Văn K và cụ Nguyễn Thị M để lại là thửa đất số 482 tơ bản đô số 1diện tich theo GCNQSD là 530m2, đo thực tế là 624m2 trên thửa đất có nhà lơp ngói 4 gian tại thôn Yên Cẩm 2, xã ĐY, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Thửa đất 482, diện tich thực tế là 624m2 trị giá 156.000.000đ (Một trăm năm mươi sáu triệu đông).
- Xác định các thừa kế thuộc hàng thừa kế thư nhất có: Bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, bà Lê Thị H và thừa kế thế vị là của bà Lê Thị X là anh Nguyễn Minh Y, chị Nguyễn Thị Thủy G, chị Nguyễn Thị F, các thừa kế thế vị của ông Lê Văn Đ có anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D.
- Xác định các thừa kế thế vị của bà Lê Thị X là anh Nguyễn Minh Y, chị Nguyễn Thị Thủy G, chị Nguyễn Thị F từ chối nhận di sản.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Thị N về việc không yêu câu trich công sưc quản lý di sản, không yêu câu giải quyết phân tài sản đã xây dựng trên đất.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đông thừa kế gôm bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D về việc không chia di sản cho từng thừa kế mà giữ nguyên hiện trạng để làm nhà thơ và nơi sinh H của các thừa kế trong các ngày giỗ, Tết.
- Chia di sản thừa kế cho 05 thừa kế 624m2 theo giá trị quyền sử dụng đất là 156.000.000đ (một trăm năm mươi sáu triệu đông), mỗi thừa kế đươc 124,8m2đất trị giá là 31.200.000đ (Ba mươi mốt triệu hai trăm nghin đông). Bà Lê Thị H đươc chia 31.200.000đ (Ba mươi mốt triệu hai trăm nghin đông).
- Các thừa kế Lê Thị A, Lê Thị B, Lê Thị C, anh Lê Văn Đ, chị Lê Thị D đươc sử dụng phân đất của bà H nên các bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C mỗi ngươi phải thanh toán cho bà H số tiền là 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghin đông). Anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung phải thanh toán cho bà Lê Thị H là 7.800.000đ, mỗi ngươi là 3.900.000đ (Ba triệu chin trăm nghin đông).
- Bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C mỗi ngươi đươc sử dụng 124,8m2 đất. Anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung đươc sử dụng 124,8m2 đất. Bà Lê Thị Thành, bà Lê Thị B, bà Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D cung đươc sử dụng 124,8m2phân đất của bà Lê Thị H tại thửa đất số 482 tơ bản đô số 1.
Các bà Lê Thị Thành, Lê Thị B, Lê Thị C, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị D có trách nhiệm liên hệ vơi các cơ quan chưc N làm thủ tục cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất.
2. Về án phí: Miễn tiền án phi DSPT cho bà Lê Thị H. Án phi DSST có giá ngạch bà Lê Thị C phải nộp 1.560.000đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghin đông), anh Lê Văn Q phải nộp 780.000đ (Bảy trăm tám mươi nghin đông).
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thơi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội
- VKSND tỉnh Thanh Hoá
- TAND huyện ĐS
- Chi cục THA dân sự huyện ĐS
- Các đương sự;
-Lưu hô sơ.
- TAND cấp cao tại Hà Nội
- VKSND tỉnh Thanh Hoá
- TAND huyện ĐS
- Chi cục THA dân sự huyện ĐS
- Các đương sự;
-Lưu hô sơ.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
Lê Thị Dung
Lê Thị Dung