TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
Bản án số: 60/2025/HS-ST
Ngày 25 - 9 - 2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Phụng;
2. Bà Nguyễn Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42A/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: số nhà 14/17, ngõ 155, đường L, tổ 04, phường T, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quốc V và bà Nguyễn Thị M; vợ Phạm Thị T, đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Từ tháng 10/2003 đến tháng 9/2005 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Trung đoàn 285, Sư đoàn 363 Quân chủng phòng không không quân. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/07/2025 đến ngày 08/07/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Hưng Yên.(Trích xuất có mặt tại phiên toà).
2. Người chứng kiến:
- Ông Lê Thanh T, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Trú tại: số nhà 08, đường P, tổ 18, phường T, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Nguyễn Tiến Vinh, sinh năm 1973. (vắng mặt)
Trú tại: số nhà 06/5, ngõ 159, đường N, tổ 4, phường V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 02/7/2025, Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng, mang BKS 17AB – 053.34 đến khu vực chợ Rặng Dừa (Vĩnh Trà), phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy đá để sử dụng cho bản thân. Tại đây, M gặp và mua của một người nam giới không quen biết, khoảng 40 tuổi, mặt đeo khẩu trang, mặc áo chống nắng bịt kín 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó M bỏ túi ma túy đá vừa mua được vào túi quần bên trái, phía trước đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, M đang dừng đỗ xe tại khu vực cổng chợ Rặng Dừa (Vĩnh Trà), phường Trần Lãm, tỉnh Hưng yên thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Lê Thanh T, sinh năm 1970, trú số nhà 08, đường P, tổ 18, phường T, tỉnh Hưng Yên và ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú số nhà 06/5, ngõ 159, đường N, tổ 4, phường V, tỉnh Hưng Yên, Mạnh đã tự nguyện lấy từ túi quần bên trái, phía trước M đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa dạng tinh thể trong suốt, M khai nhận đó là túi ma túy đá của M cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong số ma tuý thu giữ của bị cáo. Tổ công tác kiểm tra người M, không phát hiện, quản lý gì. Tổ công tác đã đưa toàn bộ vật chứng, tài sản và yêu cầu Mạnh, mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trần Lãm, Công an tỉnh Hưng Yên để lập các biên bản theo quy định pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn M tại số nhà 14/17, ngõ 155, đường L, tổ 04 phường T, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 549/KL-KTHS ngày 07/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2456 gam. (Không phẩy hai nghìn bốn trăm năm mươi sáu gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 33/CT - VKSKV5 ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 (sửa đổi bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự); Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 03 năm tù đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/07/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 549/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên. Mặt trước phong bì ghi: “HOÀN TRẢ MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH Vật chứng quản lý của Nguyễn Văn M”, bên trong còn lại 0,1949 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 02/7/2025, tại khu vực cổng chợ Rặng Dừa (Vĩnh Trà), thuộc địa phận phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn M có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên trái, phía trước Mạnh đang mặc 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2456 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân; bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên lập ngày 02/7/2025, tại trụ sở Công an phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên; Kết luận giám định số 549/KL-KTHS ngày 07/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Lê Thanh T, sinh năm 1970, trú số nhà 08, đường P, tổ 18, phường T, tỉnh Hưng Yên và ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú số nhà 06/5, ngõ 159, đường N, tổ 4, phường V, tỉnh Hưng Yên và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) ….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng, do đó không áp dụng hình bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 0,1949 gam ma túy, loại Methamphetamine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 549/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn M khai mua ma túy của một người nam giới không quen biết, khoảng 40 tuổi, tại khu vực chợ Rặng Dừa thuộc địa phận phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
[9] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, vỏ màu trắng đen, đeo BKS: 17AB – 053.54, quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1950, trú tại số nhà 14/17, ngõ 155, đường L, tổ 04, phường T, tỉnh Hưng Yên (là bố đẻ Mạnh). Ngày 02/7/2025, ông Văn không biết M sử dụng chiếc xe trên đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông V theo quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249 (sửa đổi bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự); Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/7/2025.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1949 gam ma túy, loại Methamphetamine sau giám định hoàn lại đựng phong bì niêm phong số 549/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên. Mặt trước phong bì ghi: “HOÀN TRẢ MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH Vật chứng quản lý của Nguyễn Văn M”(Vật chứng trên được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Hưng Yên quản lý).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phan Anh Tuấn
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND khu vực 5 - Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hưng Yên;
- Lưu HS, VP.
