Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › Lao động › 150

Công ước 150 năm 1978 về quản lý lao động: vai trò, chức năng và tổ chức

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 150
Loại văn bản Công ước
Cơ quan Đã xác định
Ngày ban hành 26/06/1978
Người ký Đã xác định
Ngày hiệu lực 01/01/1970
Tình trạng Còn hiệu lực
Ngày ban hành: 26/06/1978 Tình trạng: Còn hiệu lực

CÔNG ƯỚC 150

CÔNG ƯỚC

VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ TỔ CHỨC, 1978

Hội nghị của Tổ chức Lao động quốc tế,

Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 7 tháng 6 năm 1978, trong kỳ họp thứ bốn mươi, và

Nhắc lại các điều khoản của các Công ước và khuyến nghị lao động quốc tế, đặc biệt bao gồm Công ước về Thanh tra lao động ( nông nghiệp), 1969, và Công ước về Dịch vụ việc làm, 1948, các hoạt động quản lý lao động đặc biệt, và

Xét rằng nên thông qua những văn bản thiết lập quy tắc hướng dẫn cho toàn bộ hệ thống quản lý lao động, và

Nhắc lại những quy định của Công ước về chính sách việc làm, 1964, và Công ước về Phát triển nguồn nhân lực, 1975, đồng thời cũng nhắc lại mục đích thực hiện toàn dụng lao động có trả công thích đáng và khẳng định sự cần thiết của các chương trình quản lý lao động để đáp ứng mục đích này và thực thi hiệu quả các mục tiêu đã được quy định trong các Công ước này, và

Thừa nhận sự cần thiết tôn trọng đầy đủ quyền tự quản của các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động, nhắc lại về mặt này các quy định của các Công ước và Khuyến nghị lao động quốc tế để bảo vệ quyền liên kết, tổ chức và thương lượng tập thể, đặc biệt là Công ước về Tự do hiệp hội và bảo vệ quyền được tổ chức, 1948, và Công ước về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể, 1949, cấm bất cứ sự can thiệp nào của các cơ quan có thể hạn chế hoặc cản trở việc sử dụng hợp pháp các quyền đó và xét rằng các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có vai trò thiết yếu trong việc đạt tới các mục tiêu về tiến bộ kinh tế, xã hội và văn hoá, và

Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về quản lý lao động: vai trò, chức năng và tổ chức, là vấn đề thuộc điểm thứ tư trong chương trình nghị sự kỳ họp, và

Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,

Thông qua ngày 26 tháng 6 năm 1978, công ước dưới đây, gọi là Công ước về Quản lý lao động, 1978.

Điều 1

Trong Công ước này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “quản lý lao động” là chỉ những hoạt động hành chính quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính sách quốc gia về lao động;

b) “hệ thống quản lý lao động” bao gồm mọi cơ quan hành chính quản lý nhà nước có trách nhiệm và/ hoặc có hoạt động quản lý lao động, dù đó là các cơ quan ở bộ hoặc các thể chế công cộng, kể cả cơ cấu nửa nhà nước và các cơ quan hành chính khu vực hay địa phương, hoặc mọi hình thức hành chính phi tập trung khác, cũng như mọi cấu trúc thể chế được thiết lập nhằm phối hợp các hoạt động của những cơ quan đó và nhằm thực hiện việc tham khảo ý kiến và sự tham gia của sử dụng lao động, người lao động và các tổ chức của họ.

Điều 2

Mọi Nước thành viên phê chuẩn Công ước này, theo pháp luật hoặc thông lệ quốc gia, có thể uỷ nhiệm hoặc giao phó một vài hoạt động quản lý lao động cho các tổ chức phi chính phủ, nhất là các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động, hoặc nếu thích hợp, cho các đại diện của người sử dụng lao động và của người lao động.

Điều 3

Mọi Nước thành viên phê chuẩn Công ước này có thể coi một số hoạt động thuộc chính sách quốc gia về lao động của mình là những vấn đề mà theo pháp luật hoặc thực tiễn quốc gia, được điều tiết bằng việc thương lượng trực tiếp giữa các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động.

Điều 4

Bằng cách thích ứng với các điều kiện quốc gia, mọi Nước thành viên phê chuẩn Công ước này phải bảo đảm việc tổ chức và hoạt động có hiệu quả trên lãnh thổ của mình một hệ thống quản lý lao động, với những nhiệm vụ và những trách nhiệm được phối hợp một cách thích đáng.

Điều 5

1. Mọi Nước thành viên phê chuẩn Công ước này phải có những quy định phù hợp với các điều kiện quốc gia nhằm bảo đảm trong khuôn khổ của hệ thống quản lý lao động sự tham khảo ý kiến, sự hợp tác và thương lượng giữa các cơ quan có thẩm quyền và các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và của người lao động hoặc nếu thích hợp thì giữa đại diện của người sử dụng lao động và của người lao động.

2. Trong chừng mực phù hợp với pháp luật, quy định và thực tiễn quốc gia, những sự chuẩn bị này phải được tiến hành ở cấp toàn quốc, vùng và địa phương cũng như ở cấp mọi ngành hoạt động kinh tế.

Điều 6

1. Các cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ hệ thống quản lý lao động phải tuỳ từng trường hợp thích đáng, chịu trách nhiệm hoặc góp phần chuẩn bị, quản lý, phối hợp, kiểm tra và xem xét lại chính sách lao động quốc gia và phải hướng dẫn trong phạm vi quản lý nhà nước việc soạn thảo và thi hành pháp luật, pháp quy, nhằm áp dụng chính sách đó.

2. Những cơ quan này, dựa theo những quy phạm lao động quốc tế, phải:

a) Tham gia vào việc chuẩn bị, quản lý, hợp tác, kiểm tra và xem xét lại chính sách việc làm quốc gia phù hợp với pháp luật, quy định và thực tiễn quốc gia;

b) Nghiên cứu và theo dõi tình hình những người đã có việc làm, những người thất nghiệp và những người thiếu việc làm, xét theo pháp luật, quy định và thực tiễn quốc gia về những điều kiện lao động và sinh hoạt và điều kiện việc làm, lưu ý tới những khiếm khuyết và những sự lạm dụng đối với những điều kiện đó, và đề nghị những biện pháp để khắc phục những khiếm khuyết và lạm dụng đó;

c) Tuỳ theo pháp luật, quy định hay thực tiễn quốc gia, tiến hành những dịch vụ cho người sử dụng lao động và người lao động, và các tổ chức đại diện của họ, nhằm xúc tiến ở cấp toàn quốc, vùng, địa phương, cũng như ở cấp mọi ngành hoạt động kinh tế, việc tham khảo ý kiến và hợp tác hữu hiệu giữa các cơ quan công cộng với các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động, cũng như giữa các tổ chức đó với nhau;

d) để đáp ứng những yêu cầu góp ý kiến về mặt kỹ thuật của người sử dụng lao động và của người lao động, cũng như giữa các tổ chức tương ứng của họ.

Điều 7

Nếu các điều kiện quốc gia đòi hỏi, để nhằm thoả mãn nhu cầu của một số người lao động tối đa và trong chừng mực mà những hoạt động đó chưa bảo đảm được, thì mọi Nước thành viên phê chuẩn Công ước này phải xúc tiến việc mở rộng, nếu cần thì mở rộng từng bước, những chức năng của hệ thống quản lý lao động để sao cho bao gồm cả những hoạt động được tiến hành với sự cộng tác của cơ quan có thẩm quyền khác và có liên quan đến những điều kiện lao động và đời sống của những loại lao động nào mà pháp luật không coi là người làm công ăn lương, cụ thể là:

a) người làm chủ nông trại không sử dụng lao động bên ngoài, người lĩnh canh và những loại lao động nông nghiệp tương tự;

b) Người lao động độc lập không sử dụng lao động bên ngoài, làm trong một khu vực phi cơ cấu theo cách hiểu của tập quán quốc gia;

c) xã viên hợp tác xã và người lao động trong các doanh nghiệp do lao động tự quản;

d) người làm việc trong một khuôn khổ được xác định bởi tập quán hoặc bởi các truyền thống của cộng đồng.

Điều 8

Trong chừng mực phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc gia, các cơ quan có thẩm quyền nằm trong hệ thống quản lý lao động phải tham gia việc chuẩn bị chính sách quốc gia về các vấn đề lao động quốc tế và việc đại diện cho nhà nước về mặt này, đồng thời tham gia việc chuẩn bị những biện pháp cần có trong nước về các vấn đề đó.

Điều 9

Để bảo đảm phối hợp thích đáng những nhiệm vụ và trách nhiệm của hệ thống quản lý lao động, Bộ Lao động hoặc mọi cơ quan tương tự, tuỳ theo phương cách được xác định theo pháp luật hoặc thực tiễn quốc gia, phải có những phương tiện để xét xem những cơ cấu nửa nhà nước được giao một số hoạt động trong lĩnh vực quản lý lao động và những cơ quan khu vực hoặc địa phương uỷ quyền tiến hành những hoạt động đó có thi hành đúng với pháp luật quốc gia và có bám sát những mục tiêu đã đặt cho họ không.

Điều 10

1. Những nhân viên làm trong hệ thống quản lý lao động phải gồm những người có trình độ nghiệp vụ thích ứng với chức năng được giao, có thể được huấn luyện cần thiết về các chức năng đó và không phụ thuộc mọi ảnh hưởng không đúng đắn từ bên ngoài.

2. Những nhân viên này sẽ có một quy chế, những phương tiện vật chất và những nguồn kinh phí cần thiết cho việc thi hành có hiệu quả những chức năng của mình.

Các Điều từ 11 đến 18

Những quy định cuối cùng mẫu.

Từ khóa:
150 Công ước 150 Công ước số 150 Công ước 150 của Đã xác định Công ước số 150 của Đã xác định Công ước 150 của Đã xác định
Nội dung đang được cập nhật.
Văn bản gốc đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 150
Loại văn bản Công ước
Cơ quan Đã xác định
Ngày ban hành 26/06/1978
Người ký Đã xác định
Ngày hiệu lực 01/01/1970
Tình trạng Còn hiệu lực

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản gốc đang được cập nhật
Tải văn bản Tiếng Việt

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 150
Loại văn bản Công ước
Cơ quan Đã xác định
Ngày ban hành 26/06/1978
Người ký Đã xác định
Ngày hiệu lực 01/01/1970
Tình trạng Còn hiệu lực
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan