TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
Bản án số: 203/2025/DS-ST
Ngày: 29 – 9 - 2025
V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Chu
2. Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLST-
DS ngày 31 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 201/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2025, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Văn T, sinh ngày 20/6/1975 (Có mặt)
Căn cước công dân số 083075012384, cấp ngày 09/8/2021.
Nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp P, xã L, tỉnh V).
- Bị đơn:Võ Thị Y, sinh ngày 28/02/1977 (Có mặt)
Căn cước công dân số 083177006884, cấp ngày 03/7/2021.
Nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp P, xã L, tỉnh V).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Nhật L, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã B, tỉnh A.
Nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp P, xã L, tỉnh V).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2025, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày
20/8/2025 và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn ông Võ Văn T trình bày:
Ông là hụi viên có trực tiếp tham gia chơi trong 03 dây hụi, hụi tháng khui 01
lần do bà Võ Thị Y làm chủ hụi. Việc chơi hụi, đóng tiền hụi sống, các bên chỉ thỏa
thuận miệng, không có lập thành văn bản ký xác nhận. Hình thức chơi hụi là ai bỏ
thăm cao thì được hốt, chủ hụi có hưởng huê hồng. 03 dây hụi ông tham gia chơi
chưa hốt hụi (Chỉ đóng hụi sống) thì bà Y tuyên bố bể hụi năm 2024 đến nay chưa
có trả tiền hụi cho ông. 03 dây hụi ông tham gia chơi cụ thể như sau:
+ Dây hụi thứ 1: Khui vào ngày 30/02/2023 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000
đồng, dây hụi có 22 phần, ông tham gia chơi 03 phần. Dây hụi này ông đóng được
18 phần hụi sống thì bà Y tuyên bố bể hụi. Dây hụi này bà Y nợ ông tiền hụi sống
chưa trả số tiền là 54.000.000 đồng (18 phần x 03 phần x 1.000.000 đồng).
+ Dây hụi thứ 2: Khui vào ngày 05/6/2023 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000
đồng, dây hụi có 22 phần, ông tham gia chơi 05 phần. Dây hụi này ông đã hốt được
01 phần số tiền 17.200.000 đồng, còn 04 phần chưa hốt, đóng được 14 phần hụi
sống thì bà Y tuyên bố bể hụi. Dây hụi này bà Y nợ ông tiền hụi sống chưa trả số
tiền là 52.800.000 đồng.
+ Dây hụi thứ 3: Khui vào ngày 25/10/2023 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000
đồng, dây hụi có 22 phần, ông tham gia chơi 02 phần. Dây hụi này ông đóng được
10 phần hụi sống thì bà Y tuyên bố bể hụi. Dây hụi này bà Y nợ ông tiền hụi sống
chưa trả số tiền là 20.000.000 đồng (10 phần x 02 phần x 1.000.000 đồng).
Tổng cộng 03 dây hụi nêu trên bà Y nợ ông chưa trả số tiền là 126.800.000
đồng. Ông đã nhiều lần yêu cầu bà Y trả ông số tiền hụi này nhưng bà Y không trả.
Ông Võ Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Võ Thị Y và
ông Nguyễn Nhật L phải liên đới trả cho ông số tiền nợ góp hụi của 03 dây hụi nêu
trên là 126.800.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi suất.
Tại biên bản hòa giải ngày 20/8/2025 và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay,
nguyên đơn ông Võ Văn Trực khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Y và ông Nguyễn Nhật
L phải liên đới trả cho ông số tiền nợ góp hụi của 03 dây hụi nêu trên là 114.100.000
đồng, không yêu cầu trả tiền lãi suất.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 20/8/2025 và tại phiên tòa sơ thẩm
hôm nay, bị đơn bà Võ Thị Y trình bày:
Bà thừa nhận ông Võ Văn T là hụi viên, có tham gia chơi hụi trong 03 dây hụi
mà ông T trình bày là hoàn toàn đúng do bà làm chủ hụi. Bà hoàn toàn thừa nhận
hiện nay bà còn nợ ông T tiền góp hụi của 03 dây hụi nêu trên chưa trả số tiền là
114.100.000 đồng. Bà làm chủ hụi có hưởng hoa hồng, lấy tiền để phục vụ sinh
hoạt trong gia đình, chồng bà là ông Nguyễn Nhật L không biết việc bà làm chủ
hụi, không liên quan đến việc tiền nợ hụi này, hiện nay bà và ông L đã ly hôn. Bà
đồng ý và chấp nhận trả số tiền nợ hụi 114.100.000 đồng cho ông T.
* Tại biên bản hòa giải ngày 20/8/2025, người đại diện theo ủy quyền của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Y trình bày:
Ông L không đồng ý trả tiền nợ góp hụi cho ông T vì đây là nợ riêng của bà
Y, không liên quan đến ông L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của các đương sự tại phiên Tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Nhật L có đơn yêu cầu xét
xử vắng mặt gửi Tòa án nhận ngày 22/9/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T yêu cầu bị đơn bà
Võ Thị Y phải trả số tiền nợ góp hụi 114.100.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.1] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, bà Võ Thị
Y đã hoàn toàn thừa nhận, bà Y là chủ hụi, ông T là hụi viên tham gia chơi trong
03 dây hụi nêu trên và hoàn toàn thừa nhận hiện nay còn nợ ông T số tiền hụi chưa
trả là 114.100.000 đồng. Bà Y đồng ý và chấp nhận trả số tiền nợ hụi này cho ông
T nên Hội đồng xét xử công nhận, nguyên đơn ông T không phải chứng minh theo
khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Số tiền nợ hụi này đến nay bà Y chưa
trả là đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên nên nguyên đơn ông T khởi
kiện yêu cầu là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật tại Điều 471 Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 15, 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày
19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[1.2] Ông Võ Văn T không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nợ hụi nêu trên.
Đây là sự tự nguyện của ông Trực nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xét đến.
[1.3] Số tiền nợ hụi 114.100.000 đồng, ông Võ Văn T khởi kiện yêu cầu bị
đơn bà Võ Thị Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Nhật L
phải cùng liên đới trả nợ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào Quyết định công
nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 132/2025/QĐST-
HNGĐ ngày 13/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay
là Tòa án nhân dân khu vực 8-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long), thì bà Y và ông L đã
ly hôn. Tuy nhiên, số tiền nợ hụi nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân
giữa bà Y và ông L, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện
Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long) theo giấy
chứng nhận kết hôn số 01, ngày 26/4/2000, có với nhau 01 người con chung. Bà Y
khai mục đích làm chủ hụi là để hưởng hoa hồng phục vụ sinh hoạt trong gia đình,
bà Y làm chủ hụi đã nhiều năm và mở rất nhiều dây hụi. Ông L cho rằng không
biết và đây là nợ riêng của bà Y nhưng ông không có chứng cứ chứng minh, chỉ
nói miệng nên không được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là nợ
chung của bà Y và ông L lúc còn chung sống. Ông T khởi kiện yêu cầu bà Y và
ông L cùng liên đới trả số tiền nợ góp hụi 114.100.000 đồng là hoàn toàn có căn
cứ, đúng quy định pháp luật tại Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27, khoản
1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Trong đó:
phần bà Y có nghĩa vụ phải trả là 57.050.000 đồng, phần ông L có nghĩa vụ phải
trả là 57.050.000 đồng.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T được chấp nhận. Căn cứ vào
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Y và ông L phải chịu án phí. Cụ thể như sau:
- Bà Y phải chịu 57.050.000 đồng x 5% = 2.852.500 đồng.
- Ông L phải chịu 57.050.000 đồng x 5% = 2.852.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, 92; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự;
Căn cứ Điều 27, khoản 1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 15, 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của
Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T đối với bà
Võ Thị Y và ông Nguyễn Nhật L.
2. Buộc bà Võ Thị Y và ông Nguyễn Nhật L phải có nghĩa vụ liên đới trả
cho ông Võ Văn T số tiền 114.100.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu một trăm
nghìn đồng).
Trong đó:
- Phần bà Võ Thị Y có nghĩa vụ phải trả là 57.050.000 đồng (Năm mươi bảy
triệu không trăm năm chục nghìn đồng).
- Phần ông Nguyễn Nhật L có nghĩa vụ phải trả là 57.050.000 đồng (Năm
mươi bảy triệu không trăm năm chục nghìn đồng).
3. Ghi nhận ông Võ Văn T không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nợ nêu trên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Bà Võ Thị Y và ông Nguyễn Nhật L mỗi người phải chịu số tiền án phí là
2.852.500 đồng (Hai triệu tám trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Hoàn trả lại cho ông Võ Văn T 3.170.000 đồng (Ba triệu một trăm bảy mươi
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001080
ngày 29/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên Tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa Tòa cũng có quyền làm đơn kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long
(Phòng KTNV&THA);
- VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đã ký
Nguyễn Hồng Phương