Logo
  • Văn bản
    Công văn Nghị định Án lệ Bản án
  • Tin tức
    Tin văn bản Chính sách mới Tin pháp luật Kiến thức pháp luật Bản tin luật Media Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thể hot Tra cứu mã số thuế Tra cứu thuật ngữ pháp lý Tra cứu mã ngành nghề Giá xăng dầu hôm nay Tính lương Thuế TNCN người nước ngoài mới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thể hot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoài mới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệu Sơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ › Văn bản › Hôn nhân và gia đình › 113

Bản án 113 ngày 09/09/2025 về Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình - Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng

Đã sao chép thành công!
Số hiệu 113
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 09/09/2025
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG
Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-9-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung khi ly hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Thanh Dung
2. Ông Dương Minh Ngọc
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, về việc: "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn" theo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn Sâm Linh T, xã Tam Qu, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N (nay là thôn Sâm Linh T, xã Núi Th, thành phố Đà N). Căn cước công dân số 04918700….; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn Sâm Linh T, xã Tam Qu, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N (nay là thôn Sâm Linh T, xã Núi Th, thành phố Đà N). Căn cước công dân số 049082019…; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Bà và ông Trần Minh T tự nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng), hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng hay nhậu về đánh vợ con, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Minh T.
Về con chung: Hai vợ chồng có 02 con chung là Trần Bảo Thy, sinh ngày 03/8/2014 và Trần Thanh Hưng, sinh ngày 07/10/2021. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Bị đơn tuy được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Về nội dung: đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Minh T; giao 02 con là Trần Bảo Thy, sinh ngày 03/8/2014 và Trần Thanh Hưng, sinh ngày 07/10/2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề nghị xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim L có đơn khởi kiện ly hôn đối với ông Trần Minh T. Theo Biên bản xác minh tại Công an xã Núi Thành ngày 31/7/2025, bị đơn ông Trần Minh T có địa chỉ thường trú tại thôn Sâm Linh Tây, xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Sâm Linh Tây, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng). Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Minh T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân này là hợp pháp. Bà L trình bày, trong quá trình chung sống, chồng hay nhậu về đánh vợ con, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Theo nội dung Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Tam Quang ngày 20/6/2025, về quan hệ hôn nhân ông Trần Minh T và bà Nguyễn Thị Kim L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67/2011, ngày đăng ký 15/8/2011; chính quyền địa phương không rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa bà L và ông T. Tại phiên tòa, bà L cương quyết xin ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà L được ly hôn với ông T là có cơ sở.
- Về con chung: Trong quá trình hôn nhân giữa bà L và ông T có 02 con chung là Trần Bảo Thy, sinh ngày 03/8/2014 và Trần Thanh Hưng, sinh ngày 07/10/2021. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Bà L khai, hiện bà đang làm nghề tóc, thu nhập mỗi tháng hơn 10 triệu đồng, đủ nuôi con. Từ trước đến nay vẫn một mình bà nuôi con mà ông T không chu cấp cho bà nuôi con.
Xét về điều kiện, hoàn cảnh, thu nhập thực tế của bà L, ông T và nhu cầu thiết yếu cho việc nuôi con chung thì thấy: Xét thấy, cháu Thy hiện trên 7 tuổi, có nguyện vọng muốn ở với mẹ; cháu Hưng còn nhỏ, mới gần 4 tuổi, rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ người mẹ. Bà L có đủ điều kiện về thời gian, thu nhập và chỗ ở để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục các con. Ông T hiện chưa chứng minh được điều kiện đảm bảo tốt hơn cho sự phát triển của các con, ông cũng không có mặt để có ý kiến về nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, cần giao cả 02 cháu: Trần Bảo Thy, sinh ngày 03/8/2014 và Trần Thanh Hưng, sinh ngày 07/10/2021 cho bà Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: bà L không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 82 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Tuy nhiên, do nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này có yêu cầu thì sẽ được xem xét trong vụ án khác.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L với bị đơn ông Trần Minh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Minh T.
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Bảo Thy, sinh ngày 03/8/2014 và cháu Trần Thanh Hưng, sinh ngày 07/10/2021 cho bà Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007264 ngày 06 tháng 6 năm 2025.
3. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/9/2025). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nơi nhận:
- TAND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND Khu vực 5 – Đà Nẵng;
- UBND xã Núi Thành;
- Phòng THADS Khu vực 5 – Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Ngô Văn Khôi
Từ khóa:
113 Bản án 113 Bản án số 113 Bản án 113 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Bản án số 113 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Bản án 113 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 113
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 09/09/2025

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Tải văn bản gốc

Tóm tắt văn bản

Số hiệu 113
Loại văn bản Bản án
Ngày ban hành 09/09/2025
Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

Tin pháp luật

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Media Luật

  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

Mục lục

Dữ Liệu Pháp Luật

Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

Liên hệ hỗ trợ [email protected]

Tra cứu

  • Văn bản pháp luật
  • Bản án & Án lệ
  • Biểu mẫu
  • Tin văn bản
  • Chính sách mới

Công cụ tiện ích

  • Tính lương
  • Tính thuế TNCN
  • Tra cứu mã số thuế
  • Tra cứu mã ngành nghề
  • Xem tất cả công cụ

Về chúng tôi

  • Giới thiệu
  • Nền tảng Vi-Office
  • Sơ đồ website

Pháp lý rõ ràng,
công việc nhẹ nhàng

Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

© 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-Office Mã số thuế: 0109181523

Giới thiệu Sơ đồ website
văn bản pháp luật liên quan