TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN
Bản án số: 72/2019/LĐ-ST
Ngày: 05 – 11 - 2019
V/v tranh chấp “Tiền lương”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông La Văn Việt – Cán bộ hưu trí.
2. Ông Trần Trọng Nghĩa - Phó chủ tịch liên đoàn lao động huyện Đức Hòa.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2019/TLST-LĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp “Tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2019/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Thành Tr, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Khu vực 5, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường HH.
Địa chỉ: Khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Arunachalam Mohan K (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2016 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Thành Tr trình bày như sau:
Ông vào làm việc tại Công ty cổ phần mía đường HH từ năm 2015, quá trình làm việc tại Công ty, ông đã tham gia đóng bảo hiểm các khoản đầy đủ. Nhưng từ tháng 7 năm 2016, Công ty ngưng hoạt động nhưng không chính thức thông báo và cũng không chấm dứt hợp đồng lao động để giải quyết chế độ cho ông theo quy định của Bộ luật lao động.
Nay ông yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH thanh toán cho ông các khoản tiền lương như sau:
- Lương tháng 01 và 02/2016 chưa thanh toán đầy đủ. Cụ thể lương tháng 01/2016 là 1.122.900 đồng, lương tháng 02/2016 là 1.656.100 đồng. Tổng cộng 2.779.000 đồng.
- Lương ngừng việc từ tháng 07/2016 đến tháng 6/2017 (12 tháng) với số tiền là 26.922.900 đồng.
Tổng số tiền lương ông Tr yêu cầu là 29.701.900 đồng. Ngoài ra ông không còn yêu cầu gì khác.
Ngoài ra, tại đơn khởi kiện ông còn yêu cầu công ty trả tiền cơm, tiền độc hại và các khoản bảo hiểm cho bà. Tại bản tự khai và tại phiên tòa ông xác định tự nguyện rút lại yêu cầu về tiền cơm, tiền độc hại, các khoản tiền bảo hiểm và trợ cấp thôi việc.
Đối với đại diện Công ty cổ phần mía đường HH thống nhất trả số tiền trên cho ông Tr.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần mía đường mía đường.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với các quy định pháp luật về tiền lương và có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xứ nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Ngày 03 tháng 6 năm 2019, ông Đỗ Thành Tr nộp đơn khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa trả tiền lương, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về “Tiền lương” và đã thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động nhưng kết quả hòa giải không thành theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH có địa chỉ trụ sở tại khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Thành Tr có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định, bị đơn công ty cổ phần mía đường HH thống nhất trả tiền theo yêu cầu của ông Tr.
Tại phiên tòa, bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần mía đường HH.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện:
Ông Đỗ Thành Tr yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương còn nợ của tháng 01, 02/2016, và lương ngừng việc từ tháng 07/2016 đến tháng 6/2017.
Ông Tr có làm việc thực tế vào tháng 01, 02 /2016, nhưng Công ty Cổ phần mía đường HH thanh toán tiền lương cho ông không đầy đủ, là vi phạm nguyên tắc trả lương theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động nên ông Tr yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả là 2.779.000 đồng và Công ty cổ phần mía đường HH đồng ý trả là phù hợp nên ghi nhận.
Từ tháng 7/2016, Công ty ngưng hoạt động nhưng không có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Tr mà kéo dài thời gian cho đến nay nên xem như vẫn còn là người lao động của công ty và phải được trả lương theo quy định. Tuy nhiên, do từ tháng 7 năm 2016 công ty đã ngưng hoạt động nên ông chỉ yêu cầu công ty trả lương ngừng việc cho ông. Căn cứ Biên bản kê biên, xử lý tài sản do Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An lập ngày 14/7/2017 thì xác định Công ty cổ phần mía đường HH chính thức ngưng hoạt động kể từ ngày 14/7/2017 nên ông Đỗ Thành Tr yêu cầu tính lương ngừng việc từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật lao động.
Xét thấy, công ty cổ phần mía đường HH ngừng hoạt động là do gặp khó khăn về kinh tế do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động, tiền lương ngừng việc sẽ do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không thể thỏa thuận, do đó xem xét mức lương ngừng việc bằng mức lương tối thiểu vùng là phù hợp.
Căn cứ Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2015 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu vùng tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vùng II) từ ngày 01/01/2016 là 3.100.000 đồng/tháng.
Căn cứ Nghị định số 153/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2016 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì mức lương tối thiểu vùng tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vùng II) từ ngày 01/01/2017 là 3.320.000 đồng/tháng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, số tiền lương ngừng việc mà ông Tr yêu cầu công ty trả cho ông là 26.922.900 đồng; số tiền này thấp hơn so với mức lương tối thiểu vùng, xét thấy việc này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 98 và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể tổng số tiền lương ngừng việc ông Trung yêu cầu là 26.992.900 đồng.
Như vậy, tổng số tiền lương công ty cổ phần mía đường HH có trách nhiệm trả cho ông Tr 2.779.000 đồng ( lương tháng 01, 02/2016) + 26.992.900 đồng (lương ngừng việc) = 29.701.900 đồng.
Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt quá trình giải quyết, có ý kiến thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3]. Về án phí: Công ty cổ phần mía đường HH phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 96, 98 Bộ luật Lao động năm 2012;
Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Thành Tr đối với Công ty cổ phần mía đường HH về việc tranh chấp “Tiền lương”.
Buộc Công ty cổ phần mía đường HH có trách nhiệm trả cho ông Đỗ Thành Tr là 2.779.000 đồng ( lương tháng 01, 02/2016) + 26.992.900 đồng (lương ngừng việc) = 29.701.900 đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Công ty cổ phần mía đường HH nộp 891.057 đồng án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
-Các đương sự;
-VKSND huyện Đức Hòa;
-TAND tỉnh Long An;
- Chi cục THADS huyện
Đức Hòa;
- Lưu HS.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Mộng Thúy
