Logo
  • Văn bản
    Công vănNghị địnhÁn lệBản án
  • Tin tức
    Tin văn bảnChính sách mớiTin pháp luậtKiến thức pháp luậtBản tin luậtMedia Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thểhotTra cứu mã số thuếTra cứu thuật ngữ pháp lýTra cứu mã ngành nghềGiá xăng dầu hôm nayTính lươngThuế TNCN người nước ngoàimới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thểhot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoàimới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệuSơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ›Văn bản› Hôn nhân và gia đình ›64

Bản án 64 ngày 29/10/2019 về Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình - TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

Đã sao chép thành công!
Số hiệu64
Loại văn bảnBản án
Ngày ban hành29/10/2019
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 10 – 2019
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Minh Cảnh và bà Nguyễn Ngọc Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham
gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên,
tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2019/TLST-
HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9
năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 91/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng
10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Chị Thị Mỹ X, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn:Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Thị Mỹ X trình bày
như sau:
Chị và anh Huỳnh Văn T cưới nhau vào năm 2010, hôn nhân tự nguyện
được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực
hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào
ngày 17/01/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến
thường X cự cãi nhau, thậm chí đánh chị làm cho đời sống vợ chồng không hạnh
phúc nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, ly thân với chồng từ tháng 02/2019 cho
đến nay và nay xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 người con chung là Huỳnh
Phúc H, sinh ngày 24/6/2011 và Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 22/11/2013 hiện
đang sống với chị. Từ khi vợ chồng ly thân, anh T không đến thăm con cũng như
trợ cấp về tài chính để nuôi con chung. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng
con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị X xác định không có nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Huỳnh
Văn T vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu
cầu xin ly hôn và nuôi con của chị X.
Ý kiến của cháu Huỳnh Phúc H: Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có
nguyện vọng ở với mẹ cháu là chị Thị Mỹ X.
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm có: Đơn khởi kiện ngày
23/5/2019 (Bản gốc); giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013 ngày 17/01/2013 do
Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp (Bản chính); trích lục khai
sinh số 461/TLKS-BS ngày 15/8/2016 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh
Kiên Giang cấp (Bản sao); giấy khai sinh số 61/2015 ngày 10/3/2015 (Bản sao);
giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của nguyên đơn (Bản công chứng); đơn
xin xác nhận nơi cư trú ngày 23/5/2019 (Bản gốc); bản tự khai ngày 10/7/2019
(Bản gốc); biên bản nguyện vọng của con ngày 16/9/2019 (Bản gốc); biên bản
ghi nhận kiến ngày 01/7/2019 (Bản gốc) và biên bản xác minh ngày 24/7/2019
(Bản gốc).
Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cho biết: Từ đầu năm 2019
vợ chồng chị X và anh T đi làm ở Đồng Nai thì phát sinh mâu thuẫn và anh chị
đã ly thân cho đến nay và chị X bỏ về nhà cha mẹ ruột tại huyện G, tỉnh Kiên
Giang để sinh sống.
Tại phiên tòa:
Chị X tiếp tục xin ly hôn với anh T, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung,
không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; anh T vắng mặt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử vụ án, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn vắng mặt không
có lý do đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng
mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của cháu
Hậu, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Thị Mỹ X; ghi nhận sự tự nguyện việc chị X không yêu cầu anh T cấp
dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: Không có nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn
huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Chị X khởi kiện xin ly hôn với anh T và yêu
cầu được nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn
và nuôi con chung”.
[3] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình Tòa án tiến hành thụ lý và giải
quyết vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh T theo quy
định của pháp luật nhưng anh vẫn vắn mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Thị
Mỹ X yêu cầu xét xử vắng mặt bị đơn anh Huỳnh Văn T. Căn cứ vào khoản 2
Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử T
nhất quyết định xét xử vắng mặt anh T.
[4] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Mỹ X đối với anh Huỳnh Văn T. Hội
đồng xét xử thấy, hôn nhân giữa anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại
Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được Ủy ban nhân dân xã
Đông Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013 ngày 17/01/2013 nên xác
định hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến
gì đối với yêu cầu khởi kiện chị X. Qua lời trình bày của chị X cũng như kết quả
xác minh từ địa phương cho thấy anh chị cưới nhau năm 2010, có tổ chức lễ cưới
theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân xã Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thậm chí anh T
còn dùng bạo lực đối với chị làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên
chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, ly thân với chồng từ tháng 02/2019 cho đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải tạo
điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T vắng mặt không lý do, không
thể hiện thiện ý chí hàn gắn hôn nhân. Hơn nữa, anh chị đã ly thân trong thời
gian dài đến nay không ai muốn hàn gắn hôn nhân, do đó có sơ sở để xác định
mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và
mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân
và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị X cho chị X
được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị X xác định có 02 người con chung tên Huỳnh Phúc H,
sinh ngày 24/6/2011 và Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 22/11/2013 hiện đang sống
cùng với chị. Cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
Xét thấy, trong thời gian vợ chồng ly thân anh T không có tới lui thăm
con, không hỗ trợ về vật chất để chị X nuôi con chung. Chị X có đủ điều kiện về
kinh tế (chị X có công việc và thu nhập ổn định) để đảm bảo cho việc chăm sóc,
nuôi dưỡng và hiện nay các cháu được cho đi học và đang phát triển bình
thường. Do đó, trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục
giao các cháu H (theo nguyện vọng của cháu H) và cháu H cho chị X tiếp tục
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con
chung, nên ghi nhận sự tự nguyện của chị X về việc không yêu cầu anh T phải
cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị X xác định không có, không yêu cầu
giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị X là nguyên đơn chịu toàn
bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
[6] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận
như nêu ở phần nhận định trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều
228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56 và Điều
58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 5
Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị
Mỹ X đối với bị đơn anh Huỳnh Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Thị Mỹ X và anh Huỳnh
Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Phúc H, sinh ngày 24/6/2011 (Theo
nguyện vọng của cháu H) và Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 22/11/2013 cho chị Thị
Mỹ X tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
3. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thị Mỹ X về việc không
yêu cầu anh Huỳnh Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom và chăm sóc con chung,
không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con
lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu
Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, khi
cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp
nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị Mỹ X xác định không có, không
yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thị Mỹ X có nghĩa vụ nộp toàn bộ tiền
án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu
tiền tạm ứng án phí số 0001895 ngày 04/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện An Biên, vậy chị X đã nộp đủ tiền án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt nguyên đơn chị Thị Mỹ X
có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án
sơ thẩm (Ngày 29/10/2019). Bị đơn anh Huỳnh Văn T có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND huyện An Biên;
- THADS huyện An Biên;
- UNBD xã Đ;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Chọn
Từ khóa:
64Bản án 64Bản án số 64Bản án 64 của TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên GiangBản án số 64 của TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên GiangBản án 64 của TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn ()Xem thêmẨn bớt

    Bị hủy bỏ ()Xem thêmẨn bớt

      Được bổ sung ()Xem thêmẨn bớt

        Đình chỉ ()Xem thêmẨn bớt

          Bị đình chỉ ()Xem thêmẨn bớt

            Bị đinh chỉ 1 phần ()Xem thêmẨn bớt

              Bị quy định hết hiệu lực ()Xem thêmẨn bớt

                Bị bãi bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                  Được sửa đổi ()Xem thêmẨn bớt

                    Được đính chính ()Xem thêmẨn bớt

                      Bị thay thế ()Xem thêmẨn bớt

                        Được điều chỉnh ()Xem thêmẨn bớt

                          Được dẫn chiếu ()Xem thêmẨn bớt

                            Văn bản hiện tại

                            Số hiệu64
                            Loại văn bảnBản án
                            Ngày ban hành29/10/2019

                            Hướng dẫn ()Xem thêmẨn bớt

                              Hủy bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                                Bổ sung ()Xem thêmẨn bớt

                                  Đình chỉ 1 phần ()Xem thêmẨn bớt

                                    Quy định hết hiệu lực ()Xem thêmẨn bớt

                                      Bãi bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                                        Sửa đổi ()Xem thêmẨn bớt

                                          Đính chính ()Xem thêmẨn bớt

                                            Thay thế ()Xem thêmẨn bớt

                                              Điều chỉnh ()Xem thêmẨn bớt

                                                Dẫn chiếu ()Xem thêmẨn bớt

                                                  Tải văn bản gốc

                                                  Tóm tắt văn bản

                                                  Số hiệu64
                                                  Loại văn bảnBản án
                                                  Ngày ban hành29/10/2019
                                                  Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

                                                  Tin pháp luật

                                                  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
                                                  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
                                                  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
                                                  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

                                                  Media Luật

                                                  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
                                                  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
                                                  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
                                                  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

                                                  Mục lục

                                                    Dữ Liệu Pháp Luật

                                                    Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

                                                    Liên hệ hỗ trợ[email protected]

                                                    Tra cứu

                                                    • Văn bản pháp luật
                                                    • Bản án & Án lệ
                                                    • Biểu mẫu
                                                    • Tin văn bản
                                                    • Chính sách mới

                                                    Công cụ tiện ích

                                                    • Tính lương
                                                    • Tính thuế TNCN
                                                    • Tra cứu mã số thuế
                                                    • Tra cứu mã ngành nghề
                                                    • Xem tất cả công cụ

                                                    Về chúng tôi

                                                    • Giới thiệu
                                                    • Nền tảng Vi-Office
                                                    • Sơ đồ website

                                                    Pháp lý rõ ràng,
                                                    công việc nhẹ nhàng

                                                    Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

                                                    © 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-OfficeMã số thuế: 0109181523

                                                    Giới thiệuSơ đồ website
                                                    văn bản pháp luật liên quan