TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 134/2019/HNGĐ-ST
Ngày 26-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Hiền.
Bà Đoàn Thảo Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau thamgia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lễ – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc D, sinh năm 1977 (có mặt).
Hộ khẩu thường trú: Khóm 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06-9-2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là HuỳnhNgọc D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc D và anh Phan Văn H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 15-11-2013. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ và nhường nhịn nhau dẫn đến thường xuyên cự cãi. Vợ chồng ly thân năm 2006 cho đến nay. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 03 người con chung tên Phan Nhật T (nam), sinh năm 1997, Phan Vũ L (nam), sinh ngày 19-5-2001 và Phan Như Y (nữ), sinh ngày 26-4-2004. Khi ly hôn, chị D đồng ý giao Như Y cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Phan Văn H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định pháp luật. Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Ngọc D ly hôn với anh Phan Văn H. Giao con chung là Như Y cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc D và anh Phan Văn H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 15-11-2013 đúng theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Ngọc D, thấy rằng: Tại phiên tòa, chị D xác định vợ chồng đã ly thân năm 2006 cho đến nay; hiện nay chị D không còn tình cảm yêu thương anh H và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Đồng thời, chị D khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn đoàn tụ. Trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh H.
[4] Về nuôi con chung:
[4.1] Con chung tên Phan Nhật T và Phan Vũ L, hiện nay đã trưởng thành, điều kiện khả năng nhận thức và phát triển về thể chất bình thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4.2] Chị D yêu cầu giao Phan Như Y cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh H nhưng không có văn bản ý kiến về quyền và nghĩa vụ nuôi con chung. Tại văn bản ngày 30-10-2019 thể hiện: Anh H và cháu Như Y đã bỏ địa phương đi không rõ địa chỉ nên Tòa án không làm việc để ghi nhận nguyện vọng của cháu Như Y. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi con chung khi ly hôn, cần giao cháu Như Y cho anh H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp chị D và anh H có phát sinh tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện thành vụ án khác theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[6] Về án phí: Chị Huỳnh Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Ngọc D ly hôn với anh Phan Văn H.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Phan Như Y (nữ), sinh ngày 26- 4-2004 cho anh Phan Văn H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Chị Huỳnh Ngọc D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Huỳnh Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 06 tháng 9 năm 2019, chị D đã dự nộp án phí 300.000 đồng tại biên lai số 0004571 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Huỳnh Ngọc D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện U Minh;
- Chi cục THADS huyện U Minh;
- UBND thị trấn M, huyện M;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Dương Minh Út
