TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 57/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 11 - 2019
V/v “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Chung
2. Ông Danh Sang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Toán – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang: Ông Lâm Sển – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành- Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 211/2019/TLST-HNGĐ ngày 24/6/2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1988 (Có mặt)
Địa chỉ: ….., khóm 6, phường 2, thành phố BL, tỉnh BL.
* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp PH, xã MT B, huyện CT, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị K tự nguyện cưới nhau vào năm 2017, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường 2, thành phố BL, tỉnh BL ngày 19/6/2017. Qua thời gian chung sống vợ chồng tôi có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Anh L, sinh ngày 10/01/2017. Trong quá trình chung sống những năm đầu rất hạnh phúc nhưng thời giau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không hợp nhau, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, tuy bản thân anh rất muốn duy trì mãi thì chỉ gây mâu thuẫn kéo dài, vì vậy mà anh với chị K đã ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình nghĩa vợ chồng giữa anh và chị Nguyễn Thị K không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục xây dựng gia đình hạnh phúc
Tại phiên tòa Nguyễn Văn T có ý kiến:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị K.
- Về việc nuôi con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Anh L, sinh ngày 10/01/2017. Anh yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Anh L, sinh ngày 10/01/2017, anh không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với các ý kiến của chị Nguyễn Thị K: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa cho bị đơn chị Kiều nhiều lần theo đúng trình tự do Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng chị Kiều vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ, quá trình giải quyết và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Về nội dung vụ án: xét thấy việc yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Tài là có căn cứ đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[2] - Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị K và xin nuôi dưỡng người con chung. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
[3] - Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định của pháp luật. Nhưng chị K vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Tài yêu cầu xét xử vắng mặt bị đơn chị K theo quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị K.
[4] - Về nội dung vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T cho rằng anh và chị Nguyễn Thị K tự nguyện cưới nhau vào năm 2017, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường 2, thành phố BL, tỉnh BL ngày 19/6/2017. Thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn dù vợ chồng dã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, đến năm 2018 thì ly thân từ đó cho đến nay. Anh cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh khởi kiện xin ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ năm 2018 cho đến nay anhvà chị K đã sống ly thân cho đến nay, không có liên hệ với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa anh T và chị K đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, tại phiên tòa anh T cương quyết yêu cầu xin được ly hôn với chị K. Do đó việc xin ly hôn của anh T đối với chị K là hoàn toàn có căn cứ phù hợp tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T đối với chị Nguyễn Thị K.
[5] - Về quan hệ con chung: Anh T xác định anh và chị K có 01 người con chung tên Nguyễn Anh L, sinh ngày 10/01/2017. Hiện cháu L đang sống cùng anh tại BL. Anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: để không làm thay đổi môi trường sinh hoạt và sự phát triển bình thường của cháu L nên cần giao cháu L cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp.
[6] - Về tài sản chung: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
[7] - Về nợ chung vợ chồng: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
[8] - Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, nên ghi nhận để xem xét.
[9] - Về án phí: Áp dụng Điêu 147 Bô luât tô tung dân sư năm 2015; Điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 01 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc nguyên đơn anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng anh Tài được khấu trừ vào sô tiên tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiên sô 0005210 ngày 12/6/2019 của Chi cuc thi hanh an dân sư huyện Châu Thành.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56; Điều 57; Điều 80; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 01 tháng 01 năm 2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T đối với bị đơn chị Nguyễn Thị K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T được ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị K.
2.Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Anh L, sinh ngày 10/01/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị K có quyền thăm nom, chăm sóc con mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung vợ chồng: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng anh T được khấu trừ vào sô tiên tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiên sô 0005210 ngày 12/6/2019 của Chi cuc thi hanh án dân sự huyện Châu Thành.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Lưu: hồ sơ, V.phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Mai Tấn Đẩu