Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Để khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt, Bộ luật hình sự quy định chế định xóa án tại các điều từ 52 đến 56. Người được xóa án coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận. Bộ luật hình sự quy định có hai hình thức xóa án: đương nhiên được xóa án (Điều 53) và xóa án do tòa án quyết định (Điều 54 và 55). 1. Đương nhiên được xóa án là những người sau đây: a. Người được miễn hình phạt. b. Người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời hạn 3 năm kể từ ngày hết thời gian thử thách. c. Người bị kết án không phải vì tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu, người ấy không phạm tội mới trong thời hạn 3 năm trong trường hợp hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, và 5 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 5 năm. 2. Việc xóa án do tòa án quyết định căn cứ vào tính chất của tội phạm, vào nhân thân, thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau đây: a. Đã bị phạt tù đến 5 năm về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia mà không phạm tội mới trong thời hạn 5 năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu. b. Đã bị phạt tù trên 5 năm không kể về tội gì mà không phạm tội mới trong thời hạn 10 năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu.