Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Đơn vị hành chính cơ sở, thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam. Xã là điểm tụ cư của người Việt sinh sống ở vùng đồng bằng và trung du của Việt Nam. Ở vùng núi, trước cách mạng tháng Tám gọi là bản. Bản là điểm tụ cư của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Xã có thể bao gồm hai hoặc nhiều hơn các làng. Mỗi làng có thể chia thành các thôn hoặc xóm. Nhưng có xã chỉ có một làng, làng chỉ có một thôn. Trường hợp này gọi là nhất xã, nhất làng, nhất thôn. Dân cư trong xã có thể là người trong một dòng họ, hai dòng họ hoặc nhiều hơn dòng họ cùng chung sống. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ quan quản lý hành chính ở xã gồm có Hội đồng tộc biểu là người do các họ bầu ra, có nơi gọi là Hội đồng kỳ mục, là cơ quan quyết nghị và các lý dịch do Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bầu với nhiệm kỳ là 3 năm hoặc 6 năm. Các lý dịch gồm có xã trưởng có thời kỳ gọi là xã quan, về sau gọi là lý trưởng, các phó lý, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Các lý dịch là những người chấp hành của Hội đồng tộc biểu. Các lý dịch còn được gọi là xã quan có thời kỳ do quan trên bổ nhiệm - thời kỳ đầu nhà Trần, các vua đầu triều Lê, nhưng về sau đều do xã tự chọn. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay xã là đơn vị hành chính dưới huyện. Ở xã có Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương và Ủy ban nhân dân, có thời kỳ gọi là Ủy ban kháng chiến hành chính, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân. Xã là đơn vị gần gũi nhất với dân, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, là nơi thực thi mọi pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Xã là đơn vị hành chính ở cơ sở nhưng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bộ máy hành chính của quốc gia.