Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại đối với quá trình phát triển tiến bộ của luật quốc tế và việc xây dựng trật tự quốc tế mới, năm 1962 Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết về việc soạn thảo một văn bản nhằm pháp điển hóa các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Song kết quả của công tác này mới chỉ đạt được ở mức soạn thảo một bản tuyên bố của Liên hợp quốc về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 24/10/1970. Bản tuyên bố đã nêu 7 nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như sau: 1. Cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của các nước hoặc nhằm mục đích khác với Hiến chương Liên hợp quốc. 2. Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình. 3. Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. 4. Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau. 5. Các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết. 6. Các quốc gia bình đẳng về chủ quyền. 7. Tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế. Theo quan điểm của Việt Nam thì bên cạnh những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nêu trên cần phải bổ sung thêm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của con người vào hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại bởi vì quan hệ quốc tế chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền, không tôn trọng chủ quyền quốc gia khác thì không thể duy trì và phát triển quan hệ giữa các quốc gia, không thể hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia. Điều này được ghi nhận trong Điều 1 và Điều 50 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.