Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Tổ chức của Liên hợp quốc chăm lo đến đời sống và sự phát triển của trẻ em toàn thế giới, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, vv. Với phạm vi và các lĩnh vực hợp tác ngày càng mở rộng. Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc thành lập ngày 11.12.1946 với mục tiêu ban đầu là cứu trợ khẩn cấp nhân đạo cho trẻ em các nước bị Chiến tranh thế giới II tàn phá, đặc biệt là khu Châu Á, với tên: Quỹ cứu trợ khẩn cấp trẻ em của Liên hợp quốc. Từ năm 1953, vì hoạt động của Quỹ nhi đồng liên hợp quốc ngày càng phát huy được nhiều tác dụng, nên Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định giữ lại tổ chức này và đổi tên thành Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc. Tham gia Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc có các nước đóng góp (Donor Countries) và các nước nhận viện trợ (Recipient Countries), không có quy chế thành viên. Hình thức viện trợ: không hoàn lại dưới hai hình thức: a. Theo chương trình cho nhiều lĩnh vực có liên quan đến vấn đề chăm sóc, bảo vệ và phát triển trẻ em như: y tế, giáo dục, nước uống, dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, vv. Đây là hình thức được áp dụng chủ yếu. b. Viện trợ khẩn cấp do thiên tai hoặc chiến tranh. Thể thức hợp tác: - Nước nhận viện trợ xây dựng chương trình quốc gia theo yêu cầu phát triển của trẻ em nước mình, phù hợp với mục tiêu, chính sách, ưu tiên của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc. Viện trợ khẩn cấp do thiên tai nhất thiết phải có yêu cầu chính thức của chính phủ, do bộ ngoại giao chuyển, kèm theo chi tiết về diễn biến và hình thức thiệt hại, nhu cầu thực tế... Việt Nam có quan hệ chính thức với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc từ năm 1975. Từ đó đến nay Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc đã giúp đỡ trẻ em Việt Nam khoảng 400 triệu đô la Mĩ tập trung chủ yếu vào việc viện trợ khẩn cấp sau chiến tranh như đường, bột, sữa, thuốc men, xây dựng trường học, nhà trẻ, trạm xá, bệnh viện và thực hiện các chương trình quốc gia mở rộng như chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng, giáo dục phổ cập, nước uống, vệ sinh môi trường.