Giá đậu nành hạt, bột đậu nành (khô dầu) và dầu đậu nành theo đồng trên kilôgam, kèm mức tăng giảm so với phiên trước.
| Dòng sản phẩm | Giáđ/kg | Thay đổiso với phiên trước | Thuế GTGT khi bán ra |
|---|---|---|---|
| Đậu nành hạt | 11.400 | +100 | Không chịu thuế |
| Bột đậu nành | 9.200 | +200 | Chịu thuế |
| Dầu đậu nành | 38.600 | -300 | Chịu thuế |
Bảng lịch sử và biểu đồ sẽ xuất hiện khi hệ thống ghi nhận được từ phiên thứ hai trở đi. Nguồn không đăng sẵn lịch sử cho mặt hàng này nên dữ liệu được tích luỹ dần từ chính các lần cập nhật hằng ngày.
Kết quả tính trên bảng giá ngày 03/08/2026, chưa gồm thuế giá trị gia tăng với hai dòng đã qua chế biến, chưa gồm chi phí vận chuyển và bốc xếp.
1. Ba dòng sản phẩm chịu thuế khác nhau. Khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định sản phẩm cây trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng; Nghị định liệt kê sơ chế thông thường gồm làm sạch, phơi, sấy khô, tách hạt, bóc vỏ, xay xát. Đậu nành hạt do người trồng bán ra nằm trong diện này. Còn dầu đậu nành và bột đậu nành là sản phẩm đã qua chế biến, không thuộc diện không chịu thuế mà áp dụng theo quy định chung.
2. Ký gửi hàng cho đại lý. Theo Điều 554 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng gửi giữ tài sản buộc bên giữ phải bảo quản và trả lại chính tài sản đó; Điều 557 buộc trả lại đúng tình trạng như khi nhận. Nếu bên nhận được quyền bán số hàng đã nhận thì quan hệ thực chất là mua bán chưa thanh toán và người gửi trở thành chủ nợ không có bảo đảm. Nên yêu cầu đặt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, bảo lãnh hoặc thanh toán ngay khi giao hàng.