|
ỦY
BAN NHÂN DÂN |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2535/QĐ-UBND |
Bình Dương, ngày 12 tháng 10 năm 2022 |
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 06 năm 2015;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
Căn cứ Quyết định số 490/QĐ-BTP ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp tại Tờ trình số 1087/TTr-STP ngày 23 tháng 6 năm 2022.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án phát triển Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2022 - 2030.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và bãi bỏ Đề án số 2321/ĐA-UBND ngày 12/8/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương”.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
PHÁT TRIỂN VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN
2022 - 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2535/QĐ-UBND ngày 12/10/2022 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Bình Dương)
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ sở pháp lý
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra phương hướng “từng bước thực hiện việc xã hội hóa, giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự; “nghiên cứu chế định Thừa phát lại, trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương”. Thể chế hóa chủ trương này, tại Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành án dân sự, Quốc hội đã giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương đến ngày 01/7/2012.
Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23/11/2012, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến hết ngày 31/12/2015.
Thực hiện Nghị quyết số 36/2012/QH13, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013 phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại”, mở rộng thí điểm chế định Thừa phát lại từ 12 đến 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định mở rộng địa bàn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long. Việc lựa chọn các địa phương ở cả 03 miền được cân nhắc thận trọng, bảo đảm tính khả thi, tạo cơ sở để kiểm chứng, đánh giá khách quan.
Từ kết quả triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, quyết định chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước từ ngày 01/01/2016.
Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định Sở Tư pháp phối hợp với các sở, ban, ngành xây dựng Đề án phát triển Văn phòng Thừa phát lại tại địa phương trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
2. Cơ sở thực tiễn
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bình Dương luôn ở mức khá cao. Đến nay, toàn tỉnh có 30 khu công nghiệp (27 khu công nghiệp đang hoạt động) với tổng diện tích 12.670,5 ha, tỷ lệ cho thuê đạt 87,4%; 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích 790 ha, lấp đầy 67,4%.
Bình Dương có 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An, thành phố Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (41 xã, 45 phường, 05 thị trấn). Cùng với sự phát triển về kinh tế thì số lượng người ngoài tỉnh đến Bình Dương làm ăn, sinh sống ngày càng đông, dẫn đến tình hình xã hội có chiều hướng diễn biến phức tạp, số vụ việc tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, đất đai, tài sản... yêu cầu Tòa án giải quyết cũng ngày càng tăng, vụ việc thi hành án dân sự năm sau luôn cao hơn năm trước.
Về tống đạt các văn bản, giấy tờ của Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự tăng theo từng năm. Trong lĩnh vực xét xử, bình quân mỗi năm Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện thụ lý khoảng 15.396 vụ việc/năm, phải tống đạt khoảng 53.823 văn bản, giấy tờ; Viện kiếm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện phải tống đạt khoảng 992 văn bản, giấy tờ/năm; cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện bình quân mỗi năm thụ lý khoảng 27.439 vụ việc phải tống đạt trên 82.3107 giấy tờ, văn bản. Việc thu thập và xuất trình chứng cứ chứng minh tại Tòa án của đương sự hiện nay rất khó khăn, văn bản của các bên tự xác lập sự kiện pháp lý thường không bảo đảm giá trị pháp lý, do đó, việc xác lập chứng cứ chứng minh thông qua hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại sẽ góp phần tạo cơ sở để người dân có điều kiện thu thập, tạo lập chứng cứ trong hoạt động tố tụng. Nhu cầu về xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành các bản án, quyết định cũng tăng dần theo từng năm, nhưng trên thực tế nhân lực thi hành án chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tế (trung bình 01 năm mỗi chấp hành viên phải giải quyết hơn 400 hồ sơ, cá biệt có những Chấp hành viên giải quyết gần 1.500 hồ sơ thi hành án).
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay đã thành lập được 05 Văn phòng Thừa phát lại phân bổ trên 05 địa bàn cấp huyện (gồm: Thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Thuận An, thành phố Dĩ An, thị xã Tân Uyên, thị xã Bến Cát) với 13 Thừa phát lại đang hành nghề, 01 cá nhân đang tập sự hành nghề Thừa phát lại, 01 cá nhân đã hoàn thành tập sự và chờ thi kiểm tra kết thúc tập sự. Kết quả hoạt động của 05 Văn phòng Thừa phát lại: Về tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của tòa án và cơ quan thi hành án dân sự đạt 32.344 văn bản, giấy tờ, xác minh điều kiện thi hành án 9 vụ việc; tổ chức thi hành bản án, quyết định 12 vụ việc; lập vi bằng 29.035 vi bằng. Tổng doanh thu 58.098.368.000 đồng.
Từ những yêu cầu về thể chế, nhu cầu thực tiễn và kết quả thực hiện chế định Thừa phát lại tại tỉnh Bình Dương nêu trên, việc phê duyệt Đề án phát triển Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn tại địa phương.
II. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
1. Quan điểm
- Tổ chức và thực hiện chế định Thừa phát lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
- Tổ chức và thực hiện chế định Thừa phát lại phải xuất phát và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; gắn với công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp của địa phương.
- Phát huy và tích cực vận động nguồn nhân lực của toàn xã hội trong quá trình thực hiện, tạo môi trường thuận lợi cho việc xã hội hóa hoạt động Thừa phát lại trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Tổ chức và thực hiện Thừa phát lại phải đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có quy hoạch phát triển với lộ trình và giải pháp phù hợp theo định hướng của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Thực hiện chế định Thừa phát lại phải đi đôi với tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác thi hành án dân sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của địa phương.
- Việc quy hoạch phát triển Văn phòng Thừa phát lại phải sát với quy hoạch của tỉnh, gắn với địa giới hành chính và phân bố dân cư; phù hợp với tình hình và dự báo tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đáp ứng kịp thời nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Quan tâm xây dựng các Văn phòng Thừa phát lại tại những địa phương có sự phát triển mạnh về kinh tế - xã hội và nhu cầu thi hành án dân sự cao nhằm đảm bảo cho hoạt động của Thừa phát lại, giải quyết khó khăn về lượng án tồn đọng, các yêu cầu về thi hành án dân sự của tổ chức và công dân.
- Giai đoạn 2022 - 2025: Tiếp tục ổn định và tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại hiện có và phát triển Văn phòng Thừa phát lại tại một số địa phương phát sinh nhiều vụ việc thi hành án dân sự và chưa có tổ chức Thừa phát lại để đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Phát triển thêm 02 Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn chưa có Văn phòng Thừa phát lại.
- Giai đoạn 2026 - 2030: Nâng cao chất lượng hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại; rà soát, sắp xếp và tiếp tục phát triển tổ chức Thừa phát lại trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Đề án trong giai đoạn 2022-2025.
1. Lộ trình thực hiện chế định Thừa phát lại
Việc phát triển Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo 02 giai đoạn như sau:
1.1. Giai đoạn 2022 - 2025
Tập trung xây dựng quy hoạch và thành lập tổ chức hành nghề Thừa phát lại tại các địa bàn có nhu cầu của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, đồng thời tính đến nhu cầu thi hành án dân sự của từng đơn vị cấp huyện có nhu cầu thi hành án cao.
Giai đoạn này, dự kiến phát triển thêm 02 Văn phòng, phân bố cụ thể tại một trong các địa phương (huyện) chưa có Văn phòng Thừa phát lại.
1.2. Giai đoạn 2026 - 2030
Giai đoạn này, dự kiến phát triển thêm 02 Văn phòng Thừa phát lại.
2. Thành lập Văn phòng Thừa phát lại
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại để thực hiện các công việc được giao theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.
Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, việc thành lập Văn phòng Thừa phát lại phải căn cứ vào các tiêu chí sau đây:
<