Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Vùng biển nằm ngoài và tiếp liền với vùng lãnh hải của quốc gia có biển tuyên bố và thực thi các chủ quyền về kinh tế của họ. Đặc quyền kinh tế của quốc gia có vùng biển đặc quyền kinh tế bao gồm: 1. Các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn, quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật ở vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về những thăm dò, khai thác vì mục đích kinh tế như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió. 2. Các quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình, việc nghiên cứu khoa học, việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Vùng đặc quyền kinh tế được tính từ đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải với chiều rộng bằng 200 hải lý và chạy song song với đường cơ sở. Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các nước đều được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không, được quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác phù hợp với luật quốc tế. Quốc gia ven biển có thể áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố, điều tra, xét xử về những hành vi xâm phạm đến chủ quyền quốc gia về đặc quyền kinh tế. Ở các nước ven biển có vùng đặc quyền kinh tế nằm chồng lên nhau thường sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp và thường phải qua một quá trình lâu dài mới giải quyết được."